Top 17+ mẫu Cảm nhận khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất

Cảm nhận khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử tổng hợp 17 bài văn mẫu siêu hay kèm theo gợi ý cách viết chi tiết nhất. Với 17 bài văn phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ mà GrabHanoi giới thiệu sẽ giúp những bạn tự tin không phải lo nghĩ quá nhiều về việc làm sao để viết được bài văn hay, ấn tượng nhất.

Khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ đã gợi ra một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc và sự sống. Một xứ Huế mộng mơ nhưng căng tràn sức sống, một thiên nhiên trong sạch cùng những con người hiền hòa, dịu êm. Tất cả sẽ mãi khắc sâu vào trong trong lòng độc giả với tất cả sự yêu thương và trân trọng tình đời và tình người trong Đây thôn Vĩ Dạ.

Dàn ý cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

I. Mở bài:

– Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm:

Ví dụ:

Hàn Mặc Tử là một thi sĩ tài hoa nhưng không được may mắn trong cuộc sống. Khi ra đi ông để lại một kho tàng văn thơ vô cùng to lớn. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Hàn Mặc Tử đó là bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ nói về cảnh nơi thôn Vĩ, nơi có người ông thương.

– Giới thiệu khái quát nội dung khổ thơ đầu: Cảnh đẹp nơi thôn Vĩ được thể hiện rõ nhất qua khổ 1 của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

b) Thân bài: Cảm nhận khổ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

* Khái quát về bài thơ:

– Hoàn cảnh ra đời bài thơ:

  • Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được sáng tác vào khoảng năm 1938, in lần trước tiên trong tập Thơ điên (về sau đổi tên thành Đau thương).
  • Bài thơ được viết khi Hàn Mặc Tử nhận được một tấm bưu thiếp từ người con gái mà thi sĩ thầm thương, Hoàng Thị Kim Cúc.

– Địa danh “thôn Vĩ Dạ” : Vĩ Dạ là một phường thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Xem thêm: Top 20+ bài phân tích bài thơ thương của trần tế xương hay nhất 

* Luận điểm 1: Bức tranh thiên nhiên xứ Huế bình yên, thơ mộng.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

– Lời trách móc nhẹ nhõm, duyên dáng, thân tình, cũng có thể là lời thi sĩ tự vấn lòng mình

– Sự độc đáo trong sử dụng từ, 7 chữ nhưng 6 chữ là thanh bằng -> Cho thấy nỗi buồn tha thiết, tiếc nuối của tác giả

=> thắc mắc gợi lên sự trách móc thầm của nhân vật trữ tình, tự nhủ lòng mình sao dễ quên lãng một nơi mà mình từng gắn bó, một phong cảnh thiên nhiên nên thơ của Huế được tiêu biểu qua thôn Vĩ.

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.”

– Nhờ ánh nắng, cảnh vật như bừng sáng hơn

  • Những hàng cau thẳng tắp và nắng sớm mai tràn ngập không gian
  • Nắng lan tỏa tới khắp nơi, mang một sắc màu đẹp đẽ

– “nắng mới lên” : cái nắng sớm sớm mai, nhẹ nhõm, tinh khiết

-> Câu thơ làm bật lên vẻ đẹp của thôn Vĩ Dạ

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

– “mướt”: một trạng thái gợi lên sự sống mơn mởn, mướt mát của cảnh vật

– sắc xanh “như ngọc” mang ý nghĩa tượng trưng cho một làng quê yên bình, trù phú.

=> Vườn tược nơi đây xanh màu ngọc, càng lung linh hơn dưới nắng mai khi lá cành còn đọng sương đêm trước.

* Luận điểm 2: Hình ảnh con người xứ Huế phúc hậu, dịu dàng.

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

– “lá trúc che ngang mặt chữ điền”: hình ảnh con người hiện lên với nét phúc hậu, dịu dàng.

-> Hình ảnh con người bất thần xuất hiện trên cái nền thiên nhiên tươi sáng thơ mộng khiến bức tranh cuộc sống thêm nồng ấm qua giọng thơ êm dịu gợi trong lòng người đọc một cảm giác bình yên khi đứng trước bức tranh thơ độc đáo ấy.

=> Nét đẹp hài hòa giữa cảnh và người đã làm cho xứ Huế trở nên thơ mộng và thi vị hơn.

* Đặc sắc nghệ thuật

– tiếng nói điêu luyện

– văn pháp vừa lãng mạn vừa tượng trưng

– thắc mắc tu từ, điệp từ, so sánh, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác…

c) Kết bài:

– Nêu cảm nhận của em về khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Sơ đồ tư duy cảm nhận khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ

Xem thêm:  Tuyển tập 16+ mẫu Phân tích tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ xuất sắc nhất

Cảm nhận khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ học sinh giỏi – Mẫu 1

Hàn Mặc Tử là một trong những thi sĩ sáng tạo nhất trong phong trào Thơ mới. Mặc dù có một cuộc sống bi thảm, nhưng thông qua một tâm hồn giàu có, sáng tạo và bí mật, người đọc vẫn cảm thấy một tình yêu đớn đau đối với cuộc sống trần thế của mình.

“Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Hàn Mặc Tử đã để lại nhiều dấu ấn không thể xóa nhòa trong lòng độc giả. do vậy, qua nhiều thế hệ, mọi người có ba ý kiến về bài thơ: Đó là một bài thơ về giọng nói khắc khoải của một tình yêu bí mật; là một lời yêu thương đối với một quốc gia; là mong muốn được sống trong sự chia sẻ, thông cảm để trở lại với cuộc sống. Câu trước tiên của bài thơ đã thể hiện một biểu hiện đầy say mê và cảm động về tình cảm đó.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

“Đây thôn Vĩ Dạ” được Hàn Mặc Tử viết khi anh bị bệnh nan y – bệnh phong, một căn bệnh khiến nhiều người xa lánh và từ chối anh, vì vậy anh luôn có mong muốn được chia sẻ, thông cảm và muốn trở lại với cuộc sống.

Nằm trong bệnh viện và nhận được một tấm bưu thiếp từ cô con gái mà anh thầm thương, Hàn Mặc Tử lấy đó làm nguồn cảm hứng cho bài thơ ra đời. từ đó, ông vẽ phong cảnh và cả tâm tư, tỏ bày sự đơn chiếc của mình về một tình yêu đơn phương xa rời vô vọng. Không chỉ vậy, bài thơ còn là tình yêu tha thiết của thi sĩ đối với thiên nhiên, cuộc sống và con người Huế.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng một thắc mắc hùng biện: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” vừa như một lời chào thân tình vừa như một lời khiển trách nhẹ nhõm của cô gái thôn Vĩ. Không thô lỗ, nhưng rất chi thực và tinh tế.

Tuy nhiên, có thể hiểu rằng đây là sự tự nói chuyện và tự trách bản thân của tác giả. Ông tự hỏi vì sao ông đã không trở lại thăm vùng đất đó, vùng nông thôn đó trong một thời gian dài. Ông khao muốn được về thăm quê hương, nỗi nhớ về mảnh đất đó cứ đớn đau. Thật bất thần, lúc đó Hàn Mặc Tử bị ốm, làm sao anh có thể trở về nhưng không thể trở về mãi mãi…

Qua ba câu thơ sau đây, phong cảnh thiên nhiên và con người xuất hiện trong nỗi nhớ, trí tưởng tượng của Hàn Mạc Tử rất đơn thuần và thân thuộc:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Ánh nắng hàng cau, nắng mới lên là quang cảnh ngập tràn ánh mặt trời sáng sớm. Ánh sáng sơ khai, rực rỡ đó chiếu sáng không gian rộng lớn và rộng rãi của Huế. Thông điệp từ “nắng hàng cau” không chỉ thể hiện sự rực rỡ của ánh sáng và sức sống, mà còn bộc lộ tâm hồn luôn hướng về ánh sáng, hướng tới cuộc sống của Hàn Mặc Tử.

Câu thơ đó đã vẽ ra một hàng cau mạnh mẽ đang vươn lên để bắt những tia sáng trước tiên của buổi sáng. Nhớ tới Vĩ Dạ, thi sĩ nhớ tới hàng cau trước tiên. Bởi vì hình ảnh cau và nắng đã quá thân thuộc với người dân thôn Vĩ. nhịp độ của thơ ca 4/3 giống như bước chân của bất kỳ vị khách nào, ngắm nhìn mặt trời mới trên những hàng cau màu xanh lá cây rạng rỡ.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

nếu như những thi sĩ khác trong phong trào Thơ mới thường mô tả cảnh có vẻ đẹp buồn:

Lơ thơ cồn nhỏ gió hiu quạnh
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

(Tràng giang, Huy Cận)

Hay:

Rặng liễu hiu quạnh đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ nghìn hàng

(Đây mùa thu tới, Xuân Diệu)

Hàn Mặc Tử, mặc dù trong nhiều bài thơ khác thể hiện nỗi đớn đau thể xác, đớn đau trong lòng và ngã xuống, nhưng với thôn Vĩ, ông vẫn để cây bút chảy trong ánh sáng rực rỡ, tràn đầy cảm hứng và sức sống. Đại từ phiếm chỉ biểu thị “ai” làm cho câu thơ trở nên thú vị hơn, mang âm thanh của điệu nhảy trên sông Hương.

“Vườn ai” không chỉ là một khu vườn cụ thể, mà nó giống như đi theo từng bước của nhà thám hiểm, theo hành trình trong tâm trí, hai bên đường là những khu vườn tương tự.

Đắm chìm trong sắc xanh của những tán lá vườn, Hàn Mạc Tử bất thần nghĩ ra một sáng tạo nghệ thuật độc đáo: “mướt quá”. “mướt” là một trạng thái béo, tươi tốt, tràn đầy sức sống, tỏa sáng với màu xanh ngọc lục bảo dưới ánh mặt trời màu hồng của rạng đông.

Khu vườn phải được săn sóc tỉ mỉ bởi một bàn tay khéo léo thì mới xanh mướt và óng ánh được như thế. Hoặc bởi vì bản thân thi sĩ cũng thận trọng quan tâm, bảo tồn và trau dồi từng chiếc lá trong trái tim mình, để anh ta có thể thoát khỏi một ý tưởng thơ mộng đẹp đẽ tương tự!

Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” là một bản vẽ của ý thức nhấn mạnh vong linh của cây cối và lá cây trong “vườn ai”, người đọc nhường nhịn như có thể nghe thấy sinh khí dịch chuyển trong tán lá, nhìn thấy hương thơm của khu vườn.

Tất cả đều rực rỡ, vui mừng với một niềm vui mới. Vẻ đẹp có thể so sánh với “ngọc bích” không chỉ lộng lẫy mà còn vô cùng quý giá. Ngay cả màu xanh mộc mạc của cỏ và hoa cũng có thể trở thành một hình ảnh huyền diệu, đẹp như một phép màu, đẹp tới nỗi nó trở thành một biểu tượng của thôn Vĩ.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Nhắc tới con gái Huế, người ta nghĩ ngay tới hình ảnh một cô gái quyến rũ, duyên dáng trong chiếc áo dài tím mộng mơ với chiếc mũ lá trắng nhẹ nhõm, duyên dáng và tinh tế. “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” cho thấy vẻ ngoài nhẹ nhõm và nhẹ nhõm.

“Lá trúc che ngang” là một bức vẽ khéo léo, gợi lên hình ảnh khuôn mặt thoáng qua của một cô gái trẻ. Một nét vẽ mô tả vẻ đẹp thanh lịch, nhẹ nhõm. Một bức vẽ vẽ một cái nhìn xẻn lẻn, ẩn đằng sau những chiếc lá trúc của cô gái.

Và hình ảnh cô gái e thẹn nhấp nháy phía sau những chiếc lá trúc chứng minh rằng “vườn ai” và khu vườn của cô gái chỉ là một. Thiên nhiên và con người dưới cây bút sắc bén của Hàn Mặc Tử đã phối hợp hài hòa để tạo nên một bức tranh phong cảnh đẹp, tràn đầy sức sống và nét quyến rũ lạ thường.

Với giọng điệu say đắm, ngọt ngào và sâu lắng, Hàn Mạc Tử đã vẽ nên một bức tranh về thôn Vĩ Dạ, mang lại cho người nghe cảm giác thống khổ trong một bài hát Đây thôn Vĩ Dạ này thật mộng mơ và giản dị. từ đó thể hiện tình yêu lớn của ông đối với vùng đất yên bình và thịnh vượng này.

Tuy nhiên, ẩn sau mỗi bài thơ là nỗi nhớ, nán lại về con người và những cảnh ở đây. Ông đặt thắc mắc, lo lắng về tình yêu thầm kín của mình với con gái của thôn Vĩ. Ông hỏi về cảnh đẹp của thôn Vĩ. Nhưng tất cả cho thi sĩ lúc đó chỉ là nỗi nhớ.

nếu như trong khổ đầu của bài thơ là một không gian vui vẻ và sống động, trong phần còn lại của bài thơ, giọng nói của bài thơ chậm lại và âm u hơn rất nhiều. chuẩn xác hơn, khởi đầu từ nỗi đau thứ hai, Hàn Mạc Tử đã tỏ bày nỗi buồn và u sầu của mình.

Vào thời khắc đó, anh mắc bệnh phong, một căn bệnh khiến anh tránh xa mọi người. Sống trong tình cảnh chia ly, tác giả mong muốn, mong muốn trong một tâm trạng tiêu cực, một người bạn tâm giao. Anh khát khao hơn bao giờ hết để chia sẻ, hiệp thông.

Hàn Mặc Tử khao cầu tình yêu con người, yêu cuộc sống, hạnh phúc. Ông khát khao muốn trở lại cuộc sống thông thường, để trở về thôn Vĩ Dạ. Ông biết căn bệnh nghiêm trọng của mình, và biết rằng thời gian của ông rất ít. Vì vậy, thi sĩ vừa thấp thỏm, lo lắng vừa hy vọng có điều gì đó để rời đi. Đây là mong muốn tha thiết và nỗi buồn khi tác giả nhớ tới tác giả.

Với hình ảnh mang đầy nội tâm, những nét vẽ lãng mạn mô tả, tiếng nói tinh tế, sự liên kết phong phú, Hàn Mạc Tử đã vẽ nên một bức tranh thơ mộng và đẹp đẽ về một vùng quê. Và ẩn đằng sau không chỉ là một giọng nói đáng lo ngại của một tình yêu bí mật hay một lời yêu thương với một vùng quê, mà còn là mong muốn thông cảm và trở lại với cuộc sống.

Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh đẹp về một quốc gia quê hương, là tiếng nói của một người yêu cuộc sống, yêu con người. Bài thơ giống như một bông hoa rực rỡ trong rừng hoa của văn học nước nhà. từ đó thể hiện ý thức tinh khiết, yêu đời ngay cả trong thời gian thống khổ, vô vọng của Hàn Mặc Tử.

Đây thôn Vĩ Dạ khổ 1 hay nhất – Mẫu 2

Hàn Mặc Tử là một trong những thi sĩ tiêu biểu của phong trào thơ Mới. Thơ ông đặc trưng bởi sự dịu dàng, đằm thắm và xen chút buồn man mác. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những sáng tác hay nhất của Hàn Mặc Tử với những xúc cảm chân thật, thiết tha.

Bài thơ được lấy cảm hứng từ bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc gửi cho thi sĩ. Nó là tiếng lòng, là sự nhớ nhung quê hương cùng với một tí thương xót cho cuộc tình dở dang. Vì căn bệnh hiểm nghèo mà Hàn Mặc Tử bị xã hội xa lánh, buộc ông phải sống cách li và vì vậy, đã rất lâu thi sĩ chưa về thăm lại thôn Vĩ. Bức thư của cô gái mà anh thầm yêu thương đã làm cho nỗi nhớ quê hương trào lên trong tâm hồn tác giả. Khổ thơ mở đầu chỉ là bốn câu ngắn ngủi nhưng lại có sức truyền tải vô cùng lớn.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Ngay từ đầu bài thơ, tác giả đã dẫn ra một thắc mắc tu từ. thắc mắc ấy được đưa ra nhưng lại chẳng mong được đáp trả. có nhẽ, nó là lời trách móc nhẹ nhõm của Kim Cúc về sự ra đi của Mặc Tử. Đã bao lâu rồi anh không về thăm lại xứ Huế mộng mơ, thăm thôn Vĩ thân thuộc mà những ngày trước đây hai người đã từng có biết bao kỉ niệm. Câu thơ gợi lên một cảm giác bâng khuâng, xao xuyến. Nó cũng giống như một lời mời gọi sự quay trở lại quê hương, thăm thôn Vĩ Dạ nên thơ, dịu dàng. Và cũng có khi nó là sự tiếc nuối, nhớ nhung da diết của chính tác giả.

Anh đã xa quê hương mà chưa một lần trở về. Nỗi khát khao được trở về đã thúc giục anh, buộc anh phải tự hỏi chính mình “Sao không về thăm thôn Vĩ”. Thôn Vĩ là một chốn thôn quê bình yên, thơ mộng, đậm chất Huế. Không được trực tiếp tận hưởng không gian ấy nhưng những hình ảnh đẹp nhất, dịu ngọt nhất vẫn đang chảy trong tâm hồn của thi sĩ với sự nhớ mong da diết.

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Hai câu thơ vẽ lên trước mắt độc giả một bức tranh tươi đẹp và tràn đầy sức sống. Mỗi câu thư lại dẫn dắt ta tới với sự xinh đẹp, mộng mơ của thiên nhiên xứ Huế. Ở những tuyến đường nhỏ của thôn Vĩ, hai hàng cau mọc lên thẳng tắp đón lấy ánh nắng mặt trời. Chúng toát lên một vẻ thanh thoát, cao sang. Những tàu cau vươn mình ra xa, đón lấy những cơn gió nhẹ nhõm cùng tia nắng rét mướt. Mặt trời vừa hé, tỏa ra ánh nắng dịu dàng của buổi sớm mai. Những tia nắng không quá chói chang, nóng bỏng, chúng rét mướt một cách dịu hiền.

Ánh nắng len lỏi vào từng kẽ lá, chiếu rọi xuống mặt đất những hình hài đáng yêu của bóng cây. Nắng sáng mai luôn là thứ nắng tuyệt đẹp. Nó mang lại sức sống, mang lại tương đối thở cho mọi vật. Và thập thò sau những rặng cau là khu vườn ngập tràn màu xanh. Cây cối được mặt trời tưới xuống sinh khí, chúng đâm chồi nảy lộc và đua nhau xanh tốt. Màu xanh trải dài khắp cả chốn thôn quê. Màu xanh trong mắt của Hàn Mặc Tử có một cái gì đó mới mẻ và lạ lẫm. Nó không phải là xanh rì, xanh thẳm mà lại xanh màu xanh của ngọc.

Một cách so sánh rất đặc biệt và hấp dẫn. Thiên nhiên trở nên hữu tình và thơ mộng hơn qua con mắt của thi nhân. Màu xanh ấy toát lên một sức sống mãnh liệt và mạnh mẽ. Cây cối cứ mơn mởn lên để đón ánh nắng mặt trời. Nó làm cho không gian của thôn Vĩ Dạ trong sạch, thoáng mát và xanh hơn. Mọi thứ đều tươi mới và tràn trề sinh khí. Thôn Vĩ vẫn luôn luôn là thế, đẹp đẽ, mộng mơ và ngập tràn hương vị thiên nhiên.

Để rồi, trong không gian ấy, hình ảnh con người hiện lên thật hiền hòa.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Những lá trúc chập chờn theo làn gió. Nó như đang sà xuống khu vườn xanh mát để đắm mình cùng sức sống của thiên nhiên. Cũng có thể những lá trúc ấy đang nghiêng mình bên cửa sổ, ẩn hiện phía sau tấm rèm là khuôn mặt “chữ điền” của những cô gái Huế mộng mơ. Đó là khuôn mặt phúc hậu nhưng không kém phần duyên dáng. Thiên nhiên và con người hòa vào nhau, đan xen với nhau để tạo nên một cái nhìn mới lạ đầy hấp dẫn. Người con gái Huế nhẹ nhõm, e thẹn thập thò sau những chiếc lá xanh mượt mà. Nó như càng gợi lên nỗi nhớ quê hương da diết đang trực trào trong lòng tác giả.

Khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ tuy ngắn ngủi nhưng đã khơi gợi được biết bao điều ý nghĩa. Một xứ Huế mộng mơ nhưng căng tràn sức sống, một thiên nhiên trong sạch cùng những con người hiền hòa, dịu êm. Tất cả sẽ mãi khắc sâu vào trong trong lòng độc giả với tất cả sự yêu thương và trân trọng tình đời và tình người trong Đây thôn Vĩ Dạ, cái chữ “tình” bên trong con người Hàn Mặc Tử tài hoa.

Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ khổ 1 – Mẫu 3

“Thơ chỉ tràn ra khi xúc cảm thật đầy”. Thật vậy, thơ là điệu xúc cảm, thơ là cứu cánh cho thế cuộc mỗi người. Đối với Hàn Mạc Tử cũng vậy, thơ trở thành nơi ông tỏ bày bao nỗi niềm giấu kín cùng xúc cảm mãnh liệt nhưng tồn tại trong đau thương. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của ông là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Hàn. Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên đẹp xứ Huế và tình đời tình người sâu kín.

Cảnh sắc thiên nhiên nơi thôn Vĩ Dạ được gợi mở ra tươi mới tràn ngập sức sống:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Mở đầu là thắc mắc: “sao anh không về chơi thôn Vĩ?” vang lên như lời trách thầm, lời nhắn gửi nhẹ nhõm của nhân vật trữ tình. thắc mắc là của ai? Mà vừa có rất nhiều cung bậc tương tự. Không phải là của Hoàng Cúc, hay một cô gái nào khác ở Thôn Vĩ vậy thì của ai? Của Hàn Mạc Tử, nhường nhịn như tác giả tự phân thân để chất vấn chính mình. Cũng là một lời xác nhận đã lâu rồi không về thôn Vĩ, và không biết tới bao giờ, tới khi nào mới có thể trở về để thăm lại nơi đầy gắn bó những dấu yêu kỉ niệm. Không những vậy, thắc mắc còn là cái cớ rất đáng yêu, nhẹ thênh lại xót xa để gợi về kỉ niệm thôn Vĩ và bức tranh thôn Vĩ mở ra tự nhiên ở ba câu thơ tiếp với nắng hàng cau, vườn cây và cành lá trúc thân thuộc. “nắng hàng cau” là nắng trước tiên của buổi sáng sớm, cũng là hình ảnh thân thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử.

Buổi sớm với những hàng cau cao và thẳng vươn cao đón ánh nắng trước tiên. Sau một đêm bừng tỉnh, sương còn chưa tan hết, nắng mới đã bừng lên tràn ngập trên những hàng cây mới mẻ thanh tân. Trong những câu thơ không chỉ miêu ta ánh nắng một lần mà tác giả còn sử dụng điệp từ “nắng” vẽ ra luồng ánh sáng của thời gian , nắng lan trên đầu vạn vật từ trên cao xuống thấp, tràn cả khu vườn. Khoác lên tấm áo mới tươi tỉnh thanh tân. Vườn thôn Vĩ ngời lên sắc xanh “xanh mướt như ngọc” thân thuộc. “Mướt” manh sức gợi cảm cao, không chỉ diễn tả màu sắc mà còn cả sức sống. Tính từ độc đáo phối hợp sử dụng giải pháp so sánh “xanh như ngọc” khiến khu vườn biếc lên một màu ngọc lung linh. Vừa có màu sắc xanh tươi vừa óng ánh ánh sáng khi bóng nắng trên cao chiếu rọi tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Nét đẹp thân thuộc mà cũng rất xa xôi qua đại từ phiếm chỉ “ai”, trong ” vườn ai” gợi lên một nét đẹp khó nắm bắt, đẹp nhưng lại quá xa vời. Tất cả chỉ là sự sống của toàn cầu ngoài kia- một toàn cầu mà tác giả mong muốn. Cảnh thiên nhiên được tô điểm với sự xuất hiện của con người: “lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Quả là một hình ảnh độc đáo, đa nghĩa với khuôn mặt chữ điền hiền hòa phúc hậu kín đáo che đi bởi màu xanh của lá trúc thanh mảnh. Thật vậy, đây là một sản phẩm sáng tạp thân thuộc trong thơ Hàn được tạo bởi tự ti chia lìa của con người luôn tự nhận mình đứng ngoài những cuộc vui. Mở ra một ấn tượng say đắm trong hồn thơ Hàn Mặc Tử trữ tình sâu lắng cùng với đó bộc lộ những khắc khoải chi phối khi hướng về thôn Vĩ.

nếu như khổ thơ thứ nhất là một bức tranh xanh tươi thì ở khổ thơ thứ hai là bức tranh thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng:

Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Hình ảnh phong vân, sông nước, trăng hiện lên khác biệt. Gió và mây không đi liền với nhau như vốn dĩ gió thổi mây bay hưng ở đây gió và mây chia làm đôi ngả. Những sự vật vốn dĩ không thể tách rời, thì hồn thơ Hàn Mạc Tử đã chia cắt một thứ không thể cắt chia. Bản thân dòng nước là một vật vô tri vô giác nhưng ở đây” dòng nước buồn thiu”. Một giải pháp nhân hóa khiến dòng sông mang tâm trạng con người. Hay đó là sự chảy trôi của tâm trạng, là nỗi buồn li tán của sự vận động của mây, của gió, cũng chính là tự ti chia lìa của tác giả thấm vào cảnh vật. Trên dòng sông ấy là những bông hoa bắp lay. khẽ động ở đôi bờ rất nhẹ rất khẽ. Khi đặt chúng cùng với gió, mây, nước hoa bắp lay gợi sự tàn buồn hiu hắt khiến cảnh sông nước hiện lên hoang vắng rợn ngợp thấm thía nỗi buồn của sự chắc chở thê lương. Nỗi buồn thi sĩ hòa cùng nhịp buồn xứ Huế vang lên thắc mắc:” Thuyền ai đậu bến sông trăng đó”. Trong tâm trạng ấy, chợt bật lên ước ao khát vọng là có một điều gì đó có thể trở về với mình để níu giữ, để bám víu. Những ước mơ của thi sĩ gắn liền với trăng với nhạc. Đó là ước mơ khát khao được tri kỉ. Ở trăng luôn có những vẻ đẹp mà Hàn Mạc Tử luôn hướng tới. Qua câu thơ ta tưởng tượng cả một dòng sông trăng đang chảy trôi hay trăng đang tán mình trong nước. Hình ảnh “thuyền chở trăng” vừa mơ vừa thực hư kì ảo hoặc tới khó phân định. Đối với trăng tác giả không chỉ gắn vào đó những ước mơ khát vọng mà còn cả nỗi lo lắng, tự ti với hiện tại ngắn ngủi qua từ “kịp”. Sự bối rối hiện hữu trong câu chữ bổ khát vọng thì ít mà cảm giác thảm kịch thì nhiều. Mong mỏi của Hàn Mặc Tử gắn liền với đau thương dự cảm vỡ vạc

Ở khổ một và khổ hai là khắc họa bức tranh thiên nhiên thì ở khổ ba hình ảnh người con gái trong lòng tác giả xuất hiện với bao da diết nhớ mong:

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đằm thắm

Giọng thơ khẩn khoản, gấp gáp thể hiện khát khao gắn liền với hình bóng cụ thể:” khách đường xa” và “em” với tà áo trắng. Thấp thoáng hình bóng mĩ nhân, nhường nhịn như ” khách đường xa” và “em” là một. “Em” là một giấc mộng say đắm mộng ảo. Đó là hình bóng đẹp đẽ nhưng vô cùng xa xôi diệu vợi thuộc về toàn cầu ngoài kia. Với thi sĩ thì hình bóng đó chỉ hiện hữu trong giấc mộng dài. Tưởng chừng giấc mộng như tác giả ngỡ ngàng phát hiện mĩ nhân đang hiện hữu với tà áo trắng tinh khiết mỏng manh. Đó là vẻ đẹp mà tác giả luôn tôn thờ. Đúng lúc mĩ nhân hiện hữu rõ nhất trong tâm tưởng cũng là lúc nhà văn vô vọng nhất vì đang tuột mất nó khỏi tầm tay.

Khép lại tác phẩm với thắc mắc vang lên da diết:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đằm thắm

Chủ thể trữ tình đã trở về với thực tế đầy đau thương với màn sương khói của thực tế hay chính là sương khói của thời gian che phủ khiến tất cả trở nên xa với hư ảo che mờ nhân ảnh của người yêu thương. Kết bài thư lại một lần nữa vang lên thắc mắc đầy khắc khoải với đại từ phiếm chỉ “ai” có thể là tác giả cũng có thể là người con gái tác giả thầm thương. Tiếng ai vang lên chơi vơi khép lại bài thơ trong nỗi sầu mênh mang trong khát vọng không thôi hướng về tình người. Đó là khát khao được sẻ chia, thấu hiểu và yêu thương dẫu đơn chiếc vô vọng nhưng không thôi khát khao

tương tự bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ mang lại cho người đọc những trị giá sâu sắc. không những thế, bài thơ cho ra thấy khi con người bị đẩy tới tận cùng của khổ đau và bế tắc nhưng vẫn hướng tới thế cuộc sự khát khao sẻ chia.

Cảm nhận khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 4

Chế Lan Viên từng nhận xét: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao thanh hao xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. tới với bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Từ đã cho người đọc thấy được một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp nơi thôn Vĩ:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

“Đây thôn Vĩ Dạ” cho ta gặp một cái tôi trữ tình đau thương và khát khao. Câu thơ mở đầu phảng phất chút riêng tư của tác giả:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Câu thơ mở đầu là thắc mắc tu từ với nhiều sắc thái. Vừa là thắc mắc nhưng lại gợi cảm giác như lời trách nhẹ nhõm và cũng là lời mời gọi thiết tha của cô gái thôn Vĩ với thi sĩ. Song đây cũng là lời thi sĩ tự trách mình, tự hỏi mình, là ước ao thầm kín của người đi xa mong được về lại thôn Vĩ. Câu thơ bảy chữ nhưng chứa bảy thanh bằng đi liền nhau làm cho âm điệu trách móc cứ dịu nhẹ đi, lời trách nhẹ nhõm mà tha thiết và bâng khuâng. Thôn Vĩ có cái gì đặc biệt và hấp dẫn mà lời mời lại tha thiết tới vậy? thắc mắc thấm thía một nỗi niềm nuối tiếc, day dứt vọng lên từ trong lòng thi sĩ khi giờ đây dù thôn Vĩ có thơ mộng tới đâu thì thi sĩ cũng chỉ có thể trở về trong tâm tưởng. Thơ Hàn Mặc Tử là thơ hướng nội. thắc mắc “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” có thể là câu tự văn của chính bản thân ông. “Anh” ở đây là đại từ nhân xưng được sử dụng ở thứ bực nhất, chứ không phải thứ bực hai. Một thắc mắc mang tính chất giãi bày. Câu thơ thể hiện niềm nuối tiếc. Dòng thơ đượm buồn, có pha chút hối hận. Cả bài Đây thôn Vĩ Dạ phải chăng là để trả lời thắc mắc đã đặt ra ở câu trước tiên của bài thơ

Đối với Hàn Mặc Tử, câu thơ vừa ngọt ngào vừa gợi mở vừa trách móc ấy đã làm hồi sinh, bừng dậy trong thi sĩ bao kỷ niệm về một Vĩ Dạ mộng và thơ. Ngay sau đó là toàn cầu sự sống hiện ra qua cảnh và người thôn Vĩ, qua hoài niệm của thi nhân ở bì thư tiếp:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Hình ảnh “Nắng hàng cau nắng mới lên” gợi vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết. Cau là cây cao nhất trong vườn nên sớm đón được những tia nắng trước tiên của một ngày vì vậy nắng hàng cau là nắng thanh tân, tinh khôi. Ánh nắng chiếu vào thân cau đổ bóng xuống khu vườn, thân cau thẳng lại chia thành nhiều đốt điều đặn bởi vậy mà cau như cây thước của thiên nhiên được dựng sẵn trong vườn để đo mức nắng. Loài cây ấy lại chiếu rọi bởi một một thứ ánh nắng đặc biệt, nắng mới lên, nắng trước tiên của một ngày rét mướt.

Trước khi tạo nên bài Đây thôn Vĩ Dạ bất hủ này. Hàn Mặc Tử đã có lần đi qua khu vườn nhà Hoàng Thị Kim Cúc ở bến Vĩ Dạ, nhưng chỉ đứng ở cổng mà nhìn vào. Ấn tượng sâu sắc trước tiên còn lại trong độc giả khi đọc khổ thơ đầu là cảnh “bến Vĩ Dạ lúc hừng đông”. Qua cảnh này, Tử muốn gửi gắm những tâm sự kín đáo nào đây? Trong muôn vàn cây, lá của Vĩ Dạ, thi sĩ nhắc tới hàng cau tắm nắng rạng đông. Từ khi xưa, cây cau vẫn gợi mối tình lứa đôi, bằng giải pháp nghệ thuật tăng cấp, thi sĩ đã nhấn mạnh ý “nắng mới lên”, “xanh như ngọc”. Nắng rạng đông thì đẹp thật, nhưng qua cái nhìn của thi nhân lãng mạn nó cũng trôi qua rất nhanh.

Khu vườn “mướt” hàm chứa ý nghĩa của tính từ ướt và láng bóng thể hiện vẻ mượt mà, non tơ, óng chuốt, mơn mởn xanh tươi. Vẻ đẹp ấy đã khiến thi sĩ phải trằm trồ say đắm. Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc”: Sương đêm ướt đẫm cỏ cây hoa lá. Màu xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông “mướt quá” một màu xanh ngọc bích. Trong ánh nắng của buổi sớm mai, hình ảnh vườn tược buổi rạng đông hiện lên đầy sức sống. Ta có thể hiểu được thông qua điểm nhìn bao quát toàn bộ khu vườn của tác giả. Tất cả hòa hợp và ánh lên một vẻ đẹp thanh tú. Câu thơ là một bức tranh quê rực rỡ, tươi mới và tràn đầy sức sống. Thi sĩ đang muốn tuyệt đối hòa vẻ đẹp cao quý, cao sang của đối tượng. từ đó thấy được niềm thiết tha với thế cuộc trần thế của chủ thể trữ tình.

Trong khu vườn xinh đẹp ấy thấp thoáng có bóng người sau khóm trúc. Hình ảnh con người thôn Vĩ hiện lên với khuôn mặt chữ điền

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Hình ảnh lá trúc góp phần làm rõ thêm tính quyền quý của khu vườn Vĩ Dạ. Khuôn mặt chữ điền bị lá trúc che ngang lâu nay đã trở thành lời thách đố đối với bao nhiêu bạn yêu thơ. Nhiều người tán thành khẳng định khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt phúc hậu, hiền lành, trung thực, ca dao Huế đã từng có câu :

Mặt em vuông tựa chữ điền
Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài
Lòng em có đất có trời
Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền’ – Lá trúc ấy phải ở trong vườn ngọc kia, nó che khuất, che lấp cả sự phúc hậu, hiền lành, trung thực; Phải chăng nó thực sự trở thành trở lực ngăn cách tình người. Nó làm cho “Gió theo lối gió, mây đường mây”; nó tạo nên “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”; nó kết lại trong một lời trách:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đằm thắm

Câu kết bài thơ đã trả lời khá đầy đủ lý do “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Chỉ thiên về việc khai thác vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người xứ Huế, có thể người bình thơ sẽ mắc phải sai phép là không hiểu hết thảm kịch tình yêu của Hàn Mặc Tử. Khi ông viết Đây thôn Vĩ Dạ thì tình cảm của thi nhân với Hoàng Thị Kim Cúc cũng chỉ còn trong quá vãng. Hơn nữa, ông lại đang ở trong tình trạng hoang mang, bi quan tới tột bực khi biết mình bị bệnh nan y. Khổ thơ đầu nói riêng và cả bài “Đây thôn Vĩ Dạ” nói chung do vậy vẫn nằm trong cảm hứng “đau thương” của Hàn Mặc Tử.

Cảm nhận khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 5

Hàn Mặc Tử là một trong những thi sĩ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới. Tuy có thế cuộc nhiều bi thương nhưng qua hồn thơ phong phú, sáng tạo và đầy bí mật, người đọc vẫn cảm nhận được một tình yêu tới đớn đau hướng về thế cuộc trần thế của ông. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những sáng tác nổi tiếng của Hàn Mặc Tử đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong lòng người đọc. Chính vì vậy, qua bao nhiêu thế hệ, người ta có ba ý kiến nhận định về bài thơ: Đó là bài thơ về tiếng nói trằn trọc của mối tình thầm kín; là lời yêu thương với một miền quê; là niềm khát khao được sống trong niềm sẻ chia, đồng cảm được trở về với thế cuộc. Đoạn thơ đầu của thi phẩm đã thể hiện một cách thật tha thiết, xúc động những tâm tình ấy.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

“Đây thôn Vĩ Dạ” được Hàn Mặc Tử viết khi đang mắc bệnh nan y – bệnh phong, căn bệnh khiến nhiều người xa lánh, hắt hủi ông nên ông luôn mang trong mình nỗi niềm khát khao được sẻ chia, đồng cảm, muốn trở về với thế cuộc. Nằm trong bệnh viện và nhận được tấm bưu thiếp của người con gái ông thầm thương trộm nhớ, Hàn Mặc Tử lấy đó làm cảm hứng để bài thơ được ra đời. từ đó, ông đã vẽ nên bức tranh phong cảnh và cũng là tâm trạng, thể hiện nỗi niềm đơn chiếc của ông về một mối tình đơn phương xa xăm vô vọng. Không chỉ vậy, bài thơ cũng là tấm lòng yêu tha thiết của thi sĩ đối với thiên nhiên, cuộc sống, con người xứ Huế.

Mở bài bài thơ, tác giả đã sử dụng thắc mắc tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” vừa như một lời chào thân tình vừa như lời trách móc nhẹ nhõm của cô gái thôn Vĩ. Không thô lỗ, mà hết sức ân cần, tế nhị. Vì thôn Vĩ có em, vì thôn Vĩ là quê hương anh, là nơi thân thiết của anh. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là lời tự nhủ, tự trách của tác giả. Ông tự hỏi bản thân sao lâu nay nay không về thăm lại vùng đất ấy, thôn quê ấy. Ông khát khao được về thăm quê hương, nỗi thương nhớ mảnh đất ấy cứ đau đáu mãi. Ngặt nỗi, lúc ấy Hàn Mặc Tử đang bị bệnh, làm sao có thể trở về được mà cũng có thể mãi không trở về được…

Qua ba câu thơ sau, quang cảnh thiên nhiên và con người hiện lên trong hoài niệm, tưởng tượng của Hàn Mặc Tử rất đỗi bình dị, thân thuộc:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Nắng mới lên là nắng sớm buổi rạng đông. Ánh sáng tinh khôi, rực rỡ ấy làm sáng bừng không gian rộng lớn, khoáng đạt của xứ Huế. Điệp từ “nắng” không chỉ thể hiện sự tràn ngập ánh sáng, sức sống mà còn bộc lộ tâm hồn luôn hướng về ánh sáng, hướng về thế cuộc của Hàn Mặc Tử. Câu thơ ấy đã vẽ nên một hàng cau đầy sức sống, mãnh liệt đang vươn lên đón lấy những tia sáng trước tiên của buổi sớm. Nhớ tới Vĩ Dạ, thi sĩ nhớ tới hàng cau trước tiên. Bởi lẽ hình ảnh hàng cau, vun vút cao quá đỗi thân thuộc đối với người dân thôn Vĩ. Nhịp thơ 1/3/3 như bước chân thư thả của bất kỳ vị khách nào, trầm ngâm nhìn nắng mới lên trên những hàng cau xanh biếc rạng ngời.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Câu thơ như lời khen ngợi, trằm trồ, ngạc nhiên thốt lên trước vẻ đẹp thanh tao, mơn mởn của cỏ cây, thiên nhiên. Vườn ai? Phải chăng là vườn nhà em? Cảnh cũ người xưa nhưng vì lâu chưa về nên mới thốt lên ngỡ ngàng tương tự. Tác giả sử dụng giải pháp tu từ so sánh “xanh như ngọc” và từ “mướt”, tương tự có thể thấy thôn Vĩ không chỉ xinh đẹp mà còn rất trù phú. thắc mắc tu từ “Vườn ai mướt quá” như tiếng reo của trẻ thơ, một tiếng reo trong sung sướng, một lời trằm trồ khen ngợi buột ra tự nhiên khi chợt trông thấy vẻ đẹp bất thần của khu vườn. Tưởng nghe đâu nghe thấy tiếng sinh khí đang chảy trong cây. Tất cả đều rộn rực, đều đầy sức sống. Chỉ có vườn xuân mới xanh mướt, phì nhiêu tới vậy. Hay chỉ có vườn nhà em mới đẹp đẽ, hữu hình tới thế.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Nhắc tới con gái Huế, người ta nghĩ ngay tới hình ảnh cô gái duyên dáng, thướt tha trong tà áo dài tím mộng mơ cùng chiếc nón lá trắng, dịu dàng, yểu điệu mà tinh tế. “Mặt chữ điền” chỉ tướng mạo phúc hậu, dịu dàng. “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ tài tình, gợi lên hình ảnh gương mặt thấp thoáng của thiếu nữ. Một nét vẽ ấy đã mô tả vẻ đẹp thanh tao, dịu dàng. Một nét vẽ ấy đã vẽ ra phết vẻ e lệ, ẩn sau lá trúc của người con gái. Và chính hình ảnh cô gái e lệ thấp thoáng sau những lá trúc càng chứng tỏ “vườn ai” và vườn cô gái đứng chỉ là một. Thiên nhiên và con người dưới ngòi bút đầy sắc sảo của Hàn Mặc Tử đã phối hợp hài hòa với nhau tạo nên một bức tranh phong cảnh tươi đẹp, đầy sức sống và có sức hút lạ thường.

Bằng âm điệu tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng, Hàn Mặc Tử đã vẽ nên một bức tranh thôn Vĩ Dạ cho người nghe cảm nhận khổ một bài Đây thôn Vĩ Dạ thật mộng mơ, bình dị. từ đó cho thấy tình yêu to lớn của ông đối với mảnh đất yên bình, trù phú này. Tuy nhiên, ẩn sau mỗi ý thơ là nỗi niềm luyến tiếc, vương vấn về người và cảnh nơi đây. Ông vương vấn, trằn trọc về mối tình thầm kín của mình với người con gái thôn Vĩ. Ông vương vấn, thương nhớ về cảnh sắc tươi đẹp của thôn Vĩ. Nhưng tất cả đối với thi sĩ thời khắc ấy chỉ còn là hoài niệm.

nếu như ở khổ một là không gian vui tươi, đầy sức sống thì ở phần còn lại của bài thơ, giọng thơ chùng xuống, âm u hơn rất nhiều. chuẩn xác hơn, khởi đầu từ khổ hai, Hàn Mặc Tử đã bộc lộ tâm trạng đau buồn, u uất của mình. Lúc bấy giờ, ông mắc bệnh phong, căn bệnh khiến ông bị mọi người xa lánh. Sống trong lãnh cung của sự chia lìa, tác giả ước ao, khát khao một vị tri kỉ, tri kỷ. Ông khát khao hơn bao giờ hết về sự sẻ chia, giao cảm. Ông khát khao tình người, tình đời, hạnh phúc. Ông khát khao được trở về cuộc sống thông thường, được trở về thôn Vĩ Dạ. Ông biết căn bệnh hiểm nghèo của mình, biết thời gian minh còn rất ít. Vậy nên thi sĩ vừa như thấp thỏm, lo lắng vừa như hy vọng một cái gì đó sẽ rời xa. Đây chính là nỗi niềm ước ao tha thiết cùng nỗi buồn man mác khi tác giả hoài niệm của tác giả.

Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, văn pháp lãng mạn đầy sức gợi tả, tiếng nói tinh tế, giàu liên tưởng, Hàn Mặc Tử đã họa nên bức tranh nên thơ, tươi đẹp của một miền quê. Và ẩn sau đó không chỉ là tiếng nói trằn trọc của mối tình thầm kín hay lời yêu thương với một miền quê mà còn là nỗi niềm khát khao được đồng cảm, được trở về với thế cuộc.

“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp về một miền quê quốc gia, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người. Bài thơ như bông hoa rực rỡ giữa rừng hoa của văn học nước nhà. từ đó cho thấy tâm hồn thanh khiết, yêu đời dù là trong lúc khổ đau, vô vọng của Hàn Mặc Tử.

Cảm nhận khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 6

thi sĩ Hàn Mặc Tử được biết tới với sức sáng tạo nhất trong số những thi sĩ mới. Ông có một thế cuộc ngắn ngủi và đầy thảm kịch. Thơ của Hàn Mặc Tử là tiếng nói của một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu cảnh vật, yêu con người nồng nàn và tha thiết. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ tiêu biểu của thi sĩ, thể hiện một hồn thơ tha thiết nhưng vô vọng. Khổ thơ trước tiên của bài mang lại một bức tranh thiên nhiên đầy vẻ đẹp.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được khơi nguồn cảm hứng từ bức ảnh quang cảnh Huế với lời thăm hỏi của một cô gái Vĩ Dạ lúc thi sĩ đang mắc bệnh hiểm nghèo. Có thể xem bài thơ như một lời tỏ tình với thế cuộc, của một hồn thơ tha thiết với thế cuộc. Khổ thơ trước tiên là cảnh cây vườn thôn Vĩ tươi sáng trong nắng mai với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà thanh tú, nghiêng về cõi thực. xúc cảm ẩn trong cảnh là nỗi ước ao và niềm đắm say mãnh liệt.

Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên được gợi ra thật đặc biệt:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Câu thơ trước tiên, độc giả bắt gặp từ “sao” là một từ để hỏi đứng đầu câu thơ, mở đầu bài thơ. Nó gợi ra sự xao động, băn khoăn của nhân vật trữ tình. Từ “anh” chỉ thi sĩ, thể hiện nhân vật phiếm chỉ trong thơ. Đây là phương thức thắc mắc tu từ, thể hiện một sắc thái sắp gũi, dân dã, thể hiện tình cảm chân thật. Khi đọc câu thơ trước tiên, độc giả sẽ đặt ra vấn đề: thắc mắc đó là lời mời mọc, lời trách móc hay đó có phải là lời của cô gái? Đây như là lời của chính tác giả, thể hiện niềm khát khao, lời thúc giục niềm khát khao được về thôn Vĩ. Vì tác giả lâm bệnh nặng mà lại quá khát khao nên bằng tâm tưởng, tác giả đã về thôn Vĩ. Thôn Vĩ hiện ra trong trí tưởng của thi sĩ, cả một toàn cầu sống đã ùa về, gợi ra trong lòng người bao xúc cảm.

Câu thơ thứ hai, từ “nhìn” là cái cảm nhận được bằng thị giác, rất trung thực. nhường nhịn như thi sĩ đang có mặt tại thời khắc nói để chiêm ngưỡng và mô tả. Tác giả trông thấy sự vận chuyển của nắng. Điệp từ “nắng” thể hiện nắng như len lỏi vào bức tranh, tràn trề trong bức tranh. “Nắng mới” là nắng buổi sớm, trong trẻo, tinh khôi, như mang lại luồng sinh khí, mang lại sự sống cho con người. Hình ảnh “hàng cau” óng ánh trong nắng. Cau là loại cây thân thẳng, trong khu vườn là loại cây đón ánh nắng trước tiên. Tác giả mở ra một bức tranh khỏe khoắn và tạo cho khu vườn có chiều sâu.

Câu thơ thứ ba góp phần mở ra bức tranh thiên nhiên xứ Huế đẹp. Đại từ “ai” là từ phiếm chỉ, gợi chút tự ti của thi sĩ. Từ “mướt” gợi cảm giác xanh non, láng mượt, óng ánh, có sự phản quang, có ánh sáng và có sức sống. Từ “quá” như thể hiện một lời reo vui vì ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thiên nhiên. giải pháp nghệ thuật so sánh “xanh như ngọc” thể hiện màu xanh phát ra ánh sáng, tự phát ra ánh sáng của sự sống, cảnh vật như phát ra ánh sáng nội sinh, sức mạnh tràn trề của khu vườn. Bức tranh thiên nhiên xứ Huế đẹp, trong sáng và tràn đầy sức sống.

Câu thơ cuối cùng nêu lên vẻ đẹp của con người xứ Huế. “Mặt chữ điền” để chỉ người có khuôn mặt phúc hậu. Ý thơ gợi ra niềm khát khao của tác giả mong được hòa hợp, giao cảm, được trở về với cuộc sống. Hình ảnh “lá trúc che ngang” khiến khuôn mặt chỉ hiện ra có một nửa, như gợi sự tự ti của tác giả. Dù hiểu theo ý thơ thế nào thì tình cảm của thi sĩ với con người xứ Huế không bao giờ thay đổi.

Cảm nhận khổ đầu bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của thi sĩ. Đó là tiếng lòng yêu đời tha thiết, dù đang có sự đớn đau cả về thể xác lẫn tâm hồn, nhưng tác giả vẫn dành cho đời cái nhìn đầy tin yêu, phải là một con người yêu đời lắm mới mơ tưởng về thôn Vĩ đẹp tương tự. Càng xót xa về số phận của Hàn Mặc Tử bao nhiêu, ta càng trân trọng niềm yêu đời quý giá của tác giả bấy nhiêu.

Cảm nhận khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 7

Trong suốt dòng chảy của nền văn học, đã có không ít văn sĩ, thi sĩ rẽ ngược dòng hoài niệm để tìm về một “miền nhớ”, ví như “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu, “Hai cây phong” của Ai-ma-tốp, “Việt Bắc” của Tố Hữu. Những mảnh đất ấy không đơn thuần chỉ là một địa danh mà đã trở thành nơi ôm trọn vẹn tiếng lòng xao động của người cầm bút, là một bến đỗ để nghìn năm vỗ về tâm hồn con người. Cũng để ngòi bút của mình tuôn chảy trong nguồn cảm hứng vô tận ấy, đốm lửa cháy mãnh liệt của phong trào Thơ Mới, người khởi xướng ra “Trường thơ Loạn” – Hàn Mặc Tử – đã để lại dấu ấn sâu sắc trên thi đàn Việt Nam với thi phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ”. Bài thơ là cuộc hành trình về thăm chốn cũ trong tâm tưởng của tác giả, thể hiện một hồn thơ đầy thiết tha với thế cuộc và tình yêu chưa bao giờ tắt với mảnh đất và con người xứ sông Hương, núi Ngự. Điều đó được thể hiện rõ nét trong khổ thơ:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Tựa như những thanh âm trong trẻo nhất, êm ái nhất để mở đầu một khúc giao hưởng với nhiều cung bậc, khổ thơ nhẹ nhõm hé mở tâm hồn người đọc để xúc cảm len qua từng câu chữ, ùa vào tâm trí. nếu như chỉ đọc một cách đơn thuần thì bốn dòng thất ngôn này mô tả cảnh sắc xứ Huế vốn không còn xa lạ trong thơ ca. Nhưng đặt trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ, người đọc lại bắt gặp một tầng ý nghĩa khác. Khi còn làm ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có gặp gỡ và phải lòng một cô gái Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc. Chưa có dịp bộc bạch nỗi lòng thì thi sĩ họ Hàn mắc bệnh nan y (bệnh phong), phải tới ở trong trại phong Quy Hòa. Năm 1938, Hoàng Cúc gửi tặng ông bức bưu ảnh phong cảnh Huế cùng vài dòng hỏi thăm mà không đề tên. Để tạ lòng cố tri, cũng là để cõi lòng phiêu bồng trong mộng ảo, Hàn Mặc Tử viết bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Ban đầu bài thơ có tên là “Ở đây thôn Vĩ”. nếu như đặt nhan đề tương tự, người đọc sẽ chỉ bó hẹp trong giác quan của thi sĩ, rằng đó là một mảnh đất trong quá khứ, nhuốm sắc phong trần của thời gian. có nhẽ cũng bởi vậy mà Hàn Mặc Tử đã thay đổi nhan đề thành “Đây thôn Vĩ Dạ”. Không chỉ tăng tính nhạc, nhan đề này còn tựa như một lối dẫn quanh co, đưa người đọc băng qua xóm làng, qua bãi bờ để tới với thôn nhỏ mang tên Vĩ Dạ. Từ “đây” mang ý nghĩa nhấn mạnh, vừa để chỉ điểm vị trí, lại vừa thể hiện niềm khát khao chạm tới tình và cảnh. Không phải nơi nào khác mà chính là Huế, chính là thôn Vĩ Dạ. Cũng không phải người nào khác mà là người ông hằng thương nhớ, rung động: “Ai biết tình ai có đằm thắm?”. Phải chăng, chính vì nỗi niềm không thể giãi bày và nỗi đau thể xác, nỗi sầu nhân thế đã là nguồn cảm hứng vô tận cho không chỉ một “Đây thôn Vĩ Dạ” mà cả tập “Thơ Điên” (sau đổi thành “Đau thương”).

Bài thơ được mở ra bằng một lời mời gọi tha thiết:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Ta bắt gặp một địa danh được đặt trọng thể ở cuối câu thơ, cũng là cuối một thắc mắc: “Thôn Vĩ”. “Thôn Vĩ” chính là thôn Vĩ Dạ, mảnh đất mà tác giả luôn ôm trong lòng, luôn khát khao được một lần trở lại. Thôn Vĩ có gì mà thi sĩ yêu mến tới vậy? Địa danh này chỉ là một thôn nhỏ nằm bên bờ sông Hương, cũng có những rặng tre đầu làng, những mái lá liêu xiêu trong ráng chiều lù mù khói tỏa, cũng có những cánh đồng xanh mướt thẳng cánh cò bay… một vẻ đẹp đã trở nên mẫu mực, cổ điển trong thơ ca muôn thuở, cũng hết sức thân thuộc ngoài đời thực. Nhưng có nhẽ, nơi này đặc biệt hơn bởi ông đã gửi gắm một phần vong linh ở đó, cũng mang theo một mảnh hồn quê xứ sở, giữ gìn trong tim tới suốt thế cuộc. Dù chỉ lưu lại nơi ấy trong một khoảng thời gian không dài nhưng vì lẽ “tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”, thôn Vĩ chẳng khác nào một bến đỗ để sau bao phong ba của thế cuộc, Hàn Mặc Tử lại trở về tự vẫn trong sự vỗ về rét mướt.

Thi sĩ hết sức tài tình khi thổi vào tứ thơ chất Huế rất riêng, đầy ngọt ngào, ý vị. Câu thơ chỉ toàn thanh trắc nhẹ nhõm chứa lên khiến người đọc cảm tưởng như có một cô gái Huế đang nhỏ nhẹ mở lời. Cô gái ấy nhường nhịn như đang mời mọc một cách ý nhị, cũng đang khẽ khàng trách móc chàng thi sĩ sao đã lâu tương tự không “về chơi”. Hai tiếng “về chơi” nghe sao mà tình thật, sắp gũi, sao mà thổn thức như tiếng mẹ quê hương gọi đứa con xa trở về! Biết bao nhiêu tình cảm được chở chứa trọn vẹn trong hai chữ giản đơn ấy. Chỉ vậy thôi mà sao ta thấy ý thơ dâng đầy nỗi xót xa. Nào có phải Hàn Mặc Tử không muốn về thăm chốn cũ! Về thăm mảnh đất đã “hóa quê hương” ấy là cả một niềm khát khao tới bỏng cháy, chưa bao giờ nguôi ngoai trong tâm hồn thi sĩ. Ấy vậy mà tới tận lúc cuối đời, ông vẫn chưa một lần được về thăm lại chốn xưa.

thi sĩ sử dụng thắc mắc tu từ ngay ở câu thơ đầu, khác nào đặt một niềm thắc mắc, dằn vặt xuyên suốt cả thi phẩm. Để rồi ở tứ thơ nào, hình ảnh nào, dù đẹp tới đâu thì người đọc cũng chợt bâng khuâng trông thấy một nỗi nhớ, nỗi sầu ứ nghẹn bên trong.

Bằng ngòi bút tài hoa, Hàn Mặc Tử đã họa lên bức tranh ngôn từ về vẻ đẹp thôn Vĩ Dạ:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Thôn Vĩ Dạ dưới cái nhìn của thi sĩ ngập trong nắng. Vẻ đẹp của làng quê Việt Nam mới chân phương, bình dị làm sao! Bức tranh sơn dầu với quang phổ tỏa ra óng ánh, nhè nhẹ rơi từng hạt, từng hạt óng ánh vàng vào cõi lòng người đọc. Ta vốn biết đây không phải là cảnh vật do chính tác giả tận mắt trông thấy mà chỉ được điểm xuyến từ những hồi ức trong trí tưởng. Hẳn là tình yêu dành cho xứ Vĩ ấy phải lớn lao tới nhường nào mới có thể khiến những kí ức mờ nhòa trở nên sống động, trung thực tới kì lạ. Hàn Mặc Tử đã phủi đi lớp bụi mờ của thời gian, đem vẻ đẹp từ quá khứ của thôn Vĩ Dạ vượt qua những đớn đau của thể xác, tổn thương của ý thức để tới thực tế. Chính bởi vậy, người đọc cảm nhận cảnh sắc không chỉ qua thị giác mà còn qua những xúc cảm, rung động của trái tim.

Phải chăng, ngày Hàn Mặc Tử từng tới thăm “quê” trong tiềm thức là một buổi sớm đẹp tới nao lòng? Hay vì thôn Vĩ trong ông quá đẹp đẽ, tới mức nếu như hồi ức lại không phải là trong một buổi sớm tinh sương thì chẳng có thời khắc nào hơn thế nữa? có nhẽ là cả hai! Trong cùng một câu thơ, chữ “nắng” được lặp lại tới hai lần. Ánh nắng ấy rực rỡ tới độ đong đầy không gian, vương trên vạn vật, chảy tràn sánh vàng tựa mật. Ánh nắng ấy cũng rét mướt tới độ sưởi ấm, thắp lên chút ánh sáng nơi cõi lòng lạnh lẽo của thi sĩ.

Giữa không gian đầy nắng ấy, thẳng tắp vươn lên những thân cau như nét bút muốn khuấy động cả khoảng trời trong trẻo, lắng tai tiếng chuông chùa Diệu Đế, Thiên Mụ. Miền Trung đầy nắng và gió có hàng cau là điểm nhìn thân thuộc. Trong khu vườn thôn quê, cau là loài cây cao nhất, đón nắng trước tiên. Bởi vậy, thứ “nắng hàng cau” là thứ nắng trong trẻo nhất, thanh tân nhất, tinh khiết nhất. Cây cau chia đốt thẳng, giống như thước đo tự nhiên cân đong mực nắng trong vườn. Nắng trong tâm tưởng Hàn Mặc Tử là thứ chất lỏng sánh ngọt lành của mẹ thiên nhiên rót đầy vườn, mặt trời càng lên cao, mực chất lỏng ấy càng dâng lên cho tới lúc phủ qua tán cau, cũng là bao trùm cả khu vườn bằng thứ sắc màu óng ánh của nó.

nếu như như những thi sĩ khác trong phong trào Thơ Mới thường mô tả cảnh vật với vẻ đẹp đượm buồn:

Lơ thơ cồn nhỏ gió hiu quạnh
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

(Tràng giang, Huy Cận)

Hay:

Rặng liễu hiu quạnh đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ nghìn hàng

(Đây mùa thu tới, Xuân Diệu)

Thì Hàn Mặc Tử, dù trong rất nhiều bài thơ khác đã tỏ bày một nỗi đau nghẹn ứ, đau thấu tâm tình, ngã, ấy vậy mà với thôn Vĩ, ông vẫn để ngòi bút tuôn trào trong cảm hứng tươi sáng nhất, đầy sức sống. Đại từ phiếm chỉ “ai” khiến cho câu thơ thêm phần ý vị, mang âm hưởng của điệu Nam Ai, Nam Bình, của điệu hò trên sông Hương. “Vườn ai” không chỉ riêng một khu vườn cụ thể nào mà tựa như theo từng nhịp bước chân của người phiêu lãng, theo dấu cuộc hành trình trong tâm tưởng, hai bên đường đều là những mảnh vườn như thế.

Đắm chìm trong sắc xanh của cây lá miệt vườn, Hàn Mặc Tử chợt nảy ra một sáng tạo nghệ thuật độc đáo: “mướt quá”. “Mướt” là trạng thái mỡ màng, tươi tốt, căng tràn sức sống, ánh lên sắc xanh ngọc bích dưới nắng hồng của rạng đông. Hẳn khu vườn phải được săn sóc hết sức tỉ mỉ, thận trọng bởi một bàn tay khéo léo. Hay do chính thi sĩ cũng thận trọng nâng niu, giữ gìn, ươm trồng từng phiến lá trong tâm trí của mình nên mới có thể thoát lên thành ý thơ đẹp đẽ tới vậy!

Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” là nét vẽ thần tình tô đậm hồn cây lá trong “vườn ai”, người đọc tưởng như có thể nghe thấy tiếng sinh khí chuyển mình xôn xao trong tán lá, thấy hương vườn yểu điệu bước ra. Tất cả đều rộn rực, hoan hỉ một niềm vui tươi mới. Vẻ đẹp được sánh ngang với “ngọc” không chỉ tráng lệ mà còn quý giá vô cùng. tới sắc xanh dân dã của cỏ hoa cũng có thể trở thành thức ảnh diệu vợi, đẹp tựa phép màu vừa lướt qua, đẹp tới độ thành hình, thành ảnh.

Giữa màu xanh cây lá, thấp thoáng hình bóng con người:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Người con gái xứ Huế thường gắn với tà áo dài tím mộng mơ, chiếc nón bài thơ “mang hình bóng quê hương”. Nhưng trong thơ Hàn Mặc Tử, thiếu nữ ấy lại e lệ “che ngang” gương mặt sau “lá trúc”. Một nét vẽ rất đẹp họa ra vẻ dịu dàng, duyên dáng và tình tứ của thiếu nữ sông Hương. Người xưa có thanh nữ vịn cành mẫu đơn, mĩ nhân tựa nhành lan, nay lại có “mặt chữ điền” ẩn hiện sau cành trúc, lá trúc.

Cây trúc trong thi ca trung đại vốn biểu tượng cho người quân tử. Nơi mảnh vườn “xanh như ngọc” ấy lại có một người con gái nhẹ nhõm, e lệ mượn “lá trúc” “che ngang” gương mặt. Vẻ đẹp ấy thực sự giàu trị giá, vừa hồn hậu, mỏng manh, dịu dàng, lại vừa cứng cáp, tràn đầy sức sống, dẻo dai, dai sức, mang cốt cách của văn nhân nghìn xưa.

Cảm nhận khổ một bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã kết tinh nhiều trị giá nghệ thuật độc đáo. Thể thơ thất ngôn vừa cổ điển, trọng thể lại vừa chân phương, dạt dào xúc cảm. Hình ảnh thơ tuy chỉ là những kí ức mờ nhạt và qua tấm bưu ảnh nhưng lại hết sức sống động, đẹp đẽ. tiếng nói thơ giản dị mà chọn lựa lọc, súc tích. Đặc biệt, thi sĩ đã thổi hồn vào cảnh vật, để chúng thay mình giãi bày tâm trạng. Tình và cảnh, cảnh và tình đan xen nhau tạo nên cấu tứ rất riêng, rất “Hàn Mặc Tử”, thể hiện một tình yêu tới đớn đau với thế cuộc trần thế. Từ nơi đầy rẫy đau thương, thi sĩ vẫn dành những gì đẹp đẽ nhất, trong sạch nhất để gửi tới xứ Huế yêu thương, gửi tới người con gái ông từng khát khao trao tấm chân tình.

Theo dấu những vần thơ của Hàn Mặc Tử, người đọc như lạc trong cuộc hành trình từ thực tế tới mờ ảo, “vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh…” (Hoài Thanh). Dù thời gian đã trôi qua rất lâu song bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” vẫn để lại ấn tượng trong lòng nhiều thế hệ độc giả. Bài thơ là một trong số những tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ thi sĩ họ Hàn, một tâm hồn nhạy cảm với đời, với tình yêu, cuộc sống.