Hóa thân Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương (14 mẫu + Dàn ý)

Đóng vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương gồm 14 mẫu, 2 dàn ý chi tiết. từ đó, giúp những em học sinh lớp 9 hóa thân vào nhân vật Trương Sinh kể lại sự ghen tuông mù quáng, sự ăn năn về sai phép của bản thân dễ dàng hơn. Trương Sinh là người chồng vũ phu, chính vì thói ghen tuông mù quáng mà đẩy Vũ Nương tới bước đường quyên sinh để rửa oan. Hãy vận dụng trí tưởng tượng, kỹ năng kể chuyện theo thứ bực nhất để hoàn thiện bài viết những em nhé.

Dàn ý Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương

Dàn ý 1

1. Mở bài

  • Dẫn dắt vào câu chuyện hai hơn mươi năm trước của chính mình.
  • thảm kịch khiến cho gia đình tan vỡ.

2. Thân bài

a. Quá trình kết hôn và chung sống cùng vợ:

  • Tôi sinh ra là con nhà phú hào, được nuông chiều. Tính cách có phần ghen tuông thái quá.
  • Vũ Nương là con của một người làng bên, tôi biết tới nhờ nhan sắc và tính nết dịu hiền của nàng nên tìm mọi cách rước nàng về làm vợ.
  • Nàng luôn khéo léo cư xử, dù tôi không thực tin tưởng nàng, nhưng nàng chưa từng làm điều gì khiến cho vợ chồng bất hòa.
  • Chung sống được một thời gian thì triều đình có tin gọi đi lính Chiêm. Tôi vốn ít chữ nghĩa nên bị gọi đi.
  • Lúc ra đi, mẹ tôi khóc mà dặn dò tôi, còn Vũ Nương thì rót rượu dặn dò tôi bình an trở về.

b. Thời gian tôi xa nhà và trở về:

  • Đi lính ba năm, trải qua tử sinh đôi lần thì thế giặc tan ra, tôi được trở về quê hương.
  • lúc đó, Vũ Nương đã sinh cho tôi một đứa con trai, đặt tên là Đản.
  • Thế nhưng, niềm vui chẳng trọn khi mẹ già vì mong tin tôi mà đã mất.
  • Mọi việc ở nhà Vũ Nương đều vẹn tuyền, tôi thực sự vẫn coi đó là nghĩa vụ của nàng.

c. Nghi oan cho Vũ Nương

  • Tôi dẫn con ra thăm mộ mẹ, nhưng nó khóc lóc nhất quyết không theo tôi và còn hỏi tôi cũng là cha nó sao.
  • Tôi sinh lòng nghi ngờ, gặng hỏi đứa con nhỏ thì nó thơ ngây bảo đêm nào cũng có một người cha tới, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế nó.
  • Nghe vậy, tôi đinh ninh trong lòng rằng vợ mình đã thất tiết, thế nên, với bản tính của mình, tôi đã không tiếc lời nhiếc mắng nàng thậm tệ mặc cho nàng thanh minh, láng giềng nói giúp, tôi vẫn đánh đuổi nàng đi.

d. Cái chết của Vũ Nương, sự hối hận muộn màng của tôi:

  • Những lời nhiếc mắng của tôi đã khiến Vũ Nương vô cùng khổ cực, nàng chỉ nói lại với tôi một lời rồi tắm rửa sạch sẽ, chạy ra bến Hoàng Giang mà tự tử xuống đó.
  • Tôi tuy lòng vẫn đau đáu sự nghi kị với nàng nhưng trong lòng cũng có chút ăn năn nên đã tìm vớt xác nàng mà chẳng thấy.
  • Thế rồi một đêm không ngủ được, ngồi cùng con trai bên chiếc đèn, bỗng nhiên nó trỏ lên cái bóng của tôi trên vách tường mà nói “Cha Đản lại tới kìa”. Giờ thì tôi mới hiểu được Vũ Nương, mới hiểu cho nỗi oan thấu trời kia của nàng khi bị tôi nghi oan. Thế nhưng sự đã rồi, không còn có thể cứu vãn được nữa.
  • Ngày qua tháng lại, một hôm có một kẻ tự xưng Phan Lang tới tìm gặp tôi.
  • Hắn kể rằng hắn được Linh Phi của Nam Hải Long Vương cứu sống khi bị đắm thuyền và đã gặp được vợ tôi ở dưới đó. Vợ tôi đã nhờ hắn nói với tôi rằng hãy lập đàn tẩy oan cho nàng.
  • Dựa vào lời của Vũ Nương dặn dò, tôi lập đàn tẩy oan ba ngày ròng rã rã bên bến Hoàng Giang, cuối cùng tới ngày thứ ba, nàng cũng trở về.
  • Nàng đứng ở giữa kiệu hoa, võng lọng rực rỡ giữa sông, nói với tôi lời từ biệt rồi biến mất.
  • Tôi ăn năn, dằn vặt bởi sự ghen tuông của mình đã khiến tôi đánh rơi một người vợ dịu dàng, đảm đang như Vũ Nương.

3. Kết bài

  • Nỗi ăn năn dày vò tôi, hai mươi năm qua, tôi sống trong cô độc để nuôi lớn bé Đản.
  • Giờ đây nó đã lớn khôn, chuẩn bị thành gia lập thất, hy vọng Vũ Nương ở nơi chốn xa xôi cũng nhìn thấu mà ưng ý tha thứ cho kẻ như tôi.

Dàn ý 2

I. Mở bài

  • Trương Sinh giới thiệu về bản thân mình (tên, gia đạo, tính cách)
  • Trương Sinh dẫn dắt vào câu chuyện (Có một câu chuyện làm tôi ăn năn suốt đời, dù có chết tôi cũng không tha thứ cho bản thân).

II. Thân bài

1. Quá trình kết hôn và chung sống với Vũ Nương

  • Vợ tôi là Vũ Nương, xinh đẹp, đảm đang, khéo léo
  • Chúng tôi chung sống với nhau rất hòa thuận, hạnh phúc, nao nức chờ đón đứa con đầu lòng.
  • Đang trong thời gian mặn nồng, hạnh phúc, chiến tranh phi nghĩa xảy tới, tôi phải từ biệt mẹ già, vợ trẻ để đi đấu tranh.
  • Chia tay vợ trong niềm lưu luyến, thương nhớ. Tôi xúc động nhất khoảnh khắc vợ rót chén rượu đưa tiễn tôi và nói nàng không cần vinh hoa phú quý, chỉ cần tôi được bình yên.

2. Thời gian xa nhà (Được nghe những người láng giềng kể lại)

  • Tôi đi được một tuần thì vợ sinh con trai đặt tên là Đản
  • Mẹ tôi ở nhà vì quá thương nhớ tôi nên sinh bệnh
  • Vợ tôi ở nhà trông nom mẹ tôi ân cần, chu đáo, ai ai cũng phải xác nhận sự hiền thảo đó
  • Khi mẹ mất, vợ tôi khóc thương và toan tính cho mẹ tôi được mồ yên mả đẹp.
  • Tôi thầm tự hào và hàm ơn vợ, tự nhủ với lòng sẽ yêu thương và trân trọng nàng suốt đời

3. Trương Sinh trở về và nghi oan cho vợ.

  • Ba năm sau tôi trở về, trước sự ra đi của mẹ tôi đớn đau, xót xa vô cùng.
  • Tôi định bế con trai ra mộ để cùng thắp nén hương cho mẹ, nhưng nó khóc lóc, không chịu nhận tôi, nói cha nó chỉ nín thin thít, đêm nào cũng tới
  • Tính tôi đa nghi lại vội vàng nên vô cùng giận giữ, không để cho vợ thanh minh mà ngay ngay thức thì đuổi đi.

4. Vũ Nương thanh minh, được tẩy oan và sự hối hận của chàng Trương.

  • Trước cơn thịnh nộ của tôi, Vũ Nương hết lời giảng giải, thanh minh, nàng hỏi tôi chuyện kia nhưng tôi cố tình không nói, tôi vẫn nhiếc mắng thậm tệ và đuổi đi mặc cho láng giềng can ngăn
  • Sau đó, vợ tôi tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang tự tử để chứng minh lòng thành. Dù vẫn còn rất giận nhưng biết tin nàng tự tử tôi cũng động lòng thương, vớt xác lên nhưng không thấy.
  • Một đêm, nằm cùng bé Đản, bé chỉ tay lên chiếc bóng trên vách tường và nói đó là cha mình. Tôi sững sờ trông thấy nỗi oan tày trời của vợ. Tôi đớn đau, dằn vặt tự trách mình.
  • Cạnh bến sông có người tên Phan Lang, vì được Linh phi dưới thủy cung đền ơn cứu mạng nên đã được cứu vớt trong một lần chạy giặc Minh.
  • Ở dưới thủy cung, ông ta gặp lại vợ tôi. Nàng đã nhờ Phan Lang chuyển lời và chuyển kỉ vật tới tôi. Ban đầu không tin nhưng khi nhìn thấy vật cũ của vợ mới hốt hoảng tin theo.
  • ngày hôm sau, tôi nghe theo lời dặn, lập đàn tẩy oan cho vợ, Vũ Nương hiện về đẹp lung linh. Tôi xúc động, nghẹn ngào gọi vợ, nàng chỉ thấp thoáng giữa nói vọng vào lời từ biệt tôi.
  • Tôi đớn đau, ăn năn, giày vò, vì những cơn ghen mù quáng của mình.

III. Kết bài

  • Trương Sinh tự rút ra cho mình bài học: Vợ chồng phải biết yêu thương tôn trọng và đặt niềm tin ở nhau mới có hạnh phúc bền lâu
  • Trương Sinh tự hứa với lòng sẽ ở vậy, chăm con thật tốt, bù đắp sai phép.

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 1

Tôi tên là Trương Sinh ngày hôm nay tôi xin kể lại câu chuyện của gia đình tôi để những bạn có thể lấy chuyện của tôi ra làm tấm gương mà biết cách giữ gìn hạnh phúc gia đình mình đừng để tới khi gia đình tan nát mới cảm thấy hối hận như tôi.

Năm tôi tròn 20 tuổi mẹ tôi có nhờ người mai mối và đem sính nghi hỏi cưới cho tôi một người con gái cùng làng nàng tên là Vũ Thị Thiết. Nàng năm ấy vừa tròn đôi chín, dáng người đoan trang hiền thục, mặt mũi ưa nhìn, tính tình tiết hạnh… Khi mẹ hỏi cưới nàng cho tôi tôi mừng lắm vì lấy được người vợ vừa xinh đẹp lại hiền ngoan. Chúng tôi sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn, khi Vũ Nương vợ tôi mang thai đứa con đầu lòng thì cũng là lúc tôi phải theo lời kêu gọi của triều đình lên đường đi đánh trận. Ngày chia tay tôi nàng chỉ sụt sùi khóc động viên tôi giữ gìn sức khỏe trở về bình yên để gia đình được sum hiệp bên nhau. Cha được sắp con và vợ được sắp chồng.

Chiến tranh giặc giã liên miên nhiều năm liền rồi cũng tan. Tôi được trở về quê nhà nên mừng vui lắm. Nhưng vừa về tới nhà tôi liền nghe tin dữ rằng mẹ tôi vì thương nhớ tôi mà đau bệnh qua đời cách đây mấy năm. Tôi buồn lắm bồng đứa con trai của mình đi thăm mộ bà nội nó, nhưng con trai tôi nhất định không chịu theo tôi. Nó bảo tôi không phải là ba nó, ba của nó đêm nào cũng tôi. Khi nghe con trẻ nói vậy tôi bực mình lắm, máu ghen trong người tôi sôi lên sùng sục. Vợ tôi thì nổi tiếng xinh đẹp nên việc nàng có người để ý không phải chuyện khó khăn gì, nên tôi ngay ngay thức thì tin lời con trai về nhà đuổi vợ ra khỏi nhà. Tôi còn nặng lời sỉ nhục nàng ấy khiến nàng ấy chạy ra khỏi nhà và đi đâu tôi không biết.

Chỉ cho tới khi tôi nghe có người trong làng hớt hải chạy về báo với tôi rằng “Trương Sinh ơi! Tôi thấy vợ cậu Vũ Nương nàng ấy nhảy xuống sông tự vẫn rồi” người láng giềng đó còn kể cho tôi nghe những gì mà vợ tôi đã làm cho mẹ tôi khi bà đau ốm, mà tôi thì vắng mặt không có ở nhà. Người đó nói rằng tôi là người có phúc lắm mới lấy được Vũ Nương làm vợ, nhưng tôi không biết trân trọng vợ của mình. Khi nghe những lời đó tôi thấy hối hận lắm, cảm thấy sững sờ trước hành động quyết liệt của vợ mình. Tôi không thể ngờ được Vũ Nương nàng ấy lại phản ứng mạnh mẽ tới tương tự. Trong lúc nóng giận tôi đuổi nàng ấy đi nàng ấy chỉ việc về nhà mẹ đẻ chờ tôi nguôi giận phân tích ngọn ngành rồi đón nàng ấy về nhà. Vậy mà nàng ấy lại lựa chọn cái chết để chứng minh nỗi oan khúc của mình. Tôi đau xót lắm.

Buổi tối nhiều đêm tôi không thể nào chợp mắt được con thơ đòi mẹ, hình ảnh vợ tôi cứ hiện về khiếp sợ tâm trí của tôi. Tôi ngồi trước chiếc đèn soi bóng mình trên vách, thì đúng lúc đó con tôi tỉnh giấc nó vui vẻ bảo tôi “ba tôi đó” tới lúc này tôi mới hiểu ra người ba đêm nào cũng tới của con trai tôi chính là chiếc bóng của mẹ nó mà thôi. Tôi ôm mặt khóc rưng rức nhưng đã quá muộn rồi vợ tôi đã chết không sống lại được nữa.

Trong làng tôi đang sống có người đàn ông làm nghề kéo lưới tên Phan Lang ông ta rơi xuống sông không chết, sau khi tỉnh lại ông ta tới nhà gặp tôi bảo rằng ông ấy gặp vợ tôi ở dưới thủy cung. Vợ tôi Vũ Nương mong tôi lập đàn tẩy oan cho nàng ấy siêu thoát. Tôi nghe theo lời dặn dò của vợ lập đàn tẩy oan cho vợ của mình, trong làn sương mờ ảo hư thực tôi thấy vợ tôi Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa võng lọng bay lên trời không về với tôi và con trai nữa.

ngày hôm nay, tôi kể câu chuyện của mình mong những bạn hãy biết trân trọng tình cảm gia đình của mình, đã lấy nhau thì nên tin tưởng vào nhau đừng ghen tuông nghi kỵ để rồi ăn năn như tôi suốt đời.

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 2

Trong thế cục mỗi một người, chắc hẳn ai cũng đã từng phạm phải những sai phép. Tuy nhiên, sai phép đó có tác động gì tới cuộc sống hay không và cách ta đối diện với nó, sửa chữa nó thế nào mới là quan trọng. Tôi đã từng mắc một sai phép mà cho tới nay tôi vẫn không thể tha thứ cho chính mình được. Đó là việc tôi đã gây nên cái chết của vợ tôi. nếu như những bạn đã và đang có những hành động như tôi ngày đó, hãy sửa sai ngay khi còn có thể, bởi bây giờ tôi có hối hận cũng không kịp nữa rồi…

Tôi tên là Trương Sinh. Cha tôi mất sớm nên tôi sống với mẹ. Chuyện xảy ra khi tôi khởi đầu tới tuổi cưới vợ, tôi có để ý một cô gái xinh đẹp, thùy mị và nết na tên là Vũ Thị Thiết. Thấy nàng vừa xinh đẹp, vừa hiền lành, tôi đã xin mẹ tôi một trăm lạng để cưới nàng về. Tôi đã không trân trọng nàng từ khi tôi sử dụng tiền để hỏi cưới cô ấy mà không hề quan tâm xem cô ấy có yêu mình hay không. Nhưng vợ tôi quả là một người phụ nữ vẹn toàn. Cưới nàng về, tôi và mẹ được săn sóc chu đáo, cơm nước, nhà cửa lúc nào cũng tinh tươm. Ấy vậy mà tôi không những không biết hạnh phúc với hiện tại mà còn đi ghen tuông với vợ những chuyện vụn vặt cỏn con, tôi không muốn một người đàn ông nào léo hánh tới bên vợ mình. Thế rồi cũng vài năm trôi qua, Vũ nương và tôi đón tin vui trước tiên. Đó là gia đình sắp có thêm một thành viên mới, tôi sung sướng lắm! Nhưng nào ngờ đâu, chiến tranh lại đột ngột ập tới, tôi bắt buộc phải đi lính, để lại mẹ và vợ ở nhà. Trước lúc chia tay, vợ tôi có nói với tôi rằng: “Chàng ra đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong chàng được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ. Chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ.” Nghe được những lời từ vợ, tôi cảm thấy an lòng.

Ở nhà, vợ tôi vẫn là một người vợ đảm đang, tháo vát và vẹn tuyền. Chẳng lâu sau, con tôi ra đời, vợ tôi đặt tên cho con là Đản. Cả nhà ba mẹ con, bà cháu nương tựa lẫn nhau mà sống. Tôi ở chiến trường vẫn không nguôi nhớ về quê nhà, nhớ về mẹ, về vợ và cả về đứa con tôi chưa từng được một lần họp mặt nữa. Nhưng rồi chuyện gì tới cũng sẽ tới, mẹ tôi già lão nên bị lâm bệnh nặng. Trước lúc bà qua đời, bà đã có lời trăn trối với vợ tôi:

– Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải là không muốn đợi chồng con trở về. Song lòng tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết, chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền tới con. Chồng con nơi xa xôi, chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được, sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn. Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.

Cả đời mẹ tôi tảo tần nuôi dạy tôi nên người, tới lúc chết dù không được nhìn mặt con trai nhưng lại có một nàng dâu coi bà chẳng khác nào cha mẹ đẻ, bà cũng rất yên lòng. nếu như tôi có thể hiểu được vợ tôi như bà thì tốt biết mấy. Có thể mọi chuyện sẽ chẳng ra nông nỗi này! Vợ tôi lo tang ma cho mẹ thay tôi vô cùng chu đáo. Ai nấy đều cảm động trước tấm lòng của nàng.

Rồi thời gian cũng trôi qua đi, chiến tranh tạm kết thúc, tôi nao nức trở về với vợ con ở quê nhà. Hay tin mẹ đã mất, tôi đau buồn khôn xiết, liền đi ra mộ của mẹ ngay. Nhưng vì không biết đường, tôi để con trai tôi chỉ đường để cùng đi ra đó. tới nơi, chẳng hiểu sao thằng bé cứ khóc, tôi mới dỗ ngon dỗ ngọt con:

– Nín đi con, đừng khóc nữa! Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi!

Vừa nói xong, nó đã hỏi lại tôi:

– ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.

Tôi ngạc nhiên lắm! Vợ tôi có người nào khác ngoài tôi ư? Nàng ta lại dám không chung thủy với chồng của mình ư? Tôi gặng hỏi con và biết được rằng có một người đàn ông đêm nào cũng tới, vợ tôi ngồi cũng ngồi, vợ tôi đứng cũng đứng, nhưng chưa bao giờ người đàn ông đó bế con tôi cả. Máu ghen tuông vốn có của tôi trỗi dậy, tôi liền về nhà, quát tháo rầm rĩ. Vợ tôi khóc, bảo rằng:

– Thiếp vốn con nhà nghèo túng, may được nương tựa nhà giàu. Vợ chồng sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn, từng đã nguôi lòng, ngõ liễu đường hoa, chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết như lời chàng nói. Dám xin chàng cho thiếp được đãi đằng, để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng nghi oan cho thiếp!

Nhưng lúc đó tôi đâu có mảy may suy nghĩ tới đúng sai, nàng lại nói tiếp:

– Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân con én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa?

Trước những lời thân oan đau đáu, thiết tha ấy, tôi lại nhẫn tâm đuổi nàng đi mà không phân rõ đúng sai, phân tích ngọn ngành. Tôi trách mình khi ấy quá đa nghi, vội vàng, để rồi vợ tôi phải tìm tới cái chết. Tôi không bao giờ quên những lời mà nàng nói trước khi trẫm mình xuống sông:

– Kẻ bạc phận này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám! Thiếp nếu như đoan trang giữ tiết, trinh trắng gìn lòng, xin vào nước làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược ưng ý chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.

Vợ tôi đã phải lựa chọn cách đớn đau nhất là tìm tới cái chết. Chỉ có cái chết mới có thể chứng minh cho sự trong sạch của nàng. Sau này, khi tôi bế con, thấy cái bóng ở trên tường, con tôi mới chỉ và bảo: “Cha Đản tới rồi kìa”. Hóa ra, người tình của vợ tôi là cái bóng, vợ tôi muốn dỗ ngon dỗ ngọt con, bớt đi sự đơn chiếc nên mới bảo đó là cha đứa bé… Mà tôi lại không hề biết, lại đi trách mắng, nhục mạ, xỉ nhục và đuổi vợ đi, khiến cho vợ tôi phải chết, chết trong sự oan ức. Tôi đau lòng và dằn vặt bản thân mỗi khi nhớ lại chuyện này. Mãi sau, vợ tôi được Linh Phi – người cùng làng với cô ấy tẩy oan cho. Tôi thấy bóng hình vợ hiện về và bảo: “Thiếp không thể trở về bên chàng và con được nữa…” Đó là câu nói khiến tôi khiếp sợ và đau lòng nhất.

Giờ đây, đã hai mươi năm trôi qua, tôi vẫn không thể nào quên được câu chuyện đó. thảm kịch mà chính tôi tạo ra khiến tôi muốn xám hối cả đời, sống đơn thân nuôi con trai lớn khôn. Tôi hiểu ra rằng, khi yêu một người thì cần phải có sự tin tưởng, cần phải đặt niềm tin vào người đó chứ đừng ghen tuông mù quáng. nếu như có chuyện gì xảy ra thì cần phải phân tích thật kĩ trước khi làm gì bởi khi ta nóng giận có thể hành xử mất kiểm soát, dẫn tới hậu quả khôn lường.

những bạn, nếu như ai đang trong một mối quan hệ tình yêu thì nên biết tôn trọng và thấu hiểu đối phương. Đừng ai như tôi, để ghen tuông làm mờ đôi mắt. thế cục tôi đã không thể cứu vãn và sửa chữa được sai phép, còn những bạn thì vẫn còn rất nhiều thời cơ. Hãy biết đối xử với người khác thật tốt và thận trọng trong từng hành động để không phải hối hận về bất cứ điều gì, những bạn nhé!

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 3

Tôi là Trương Sinh, con một nhà hào phú nức tiếng giàu có trong vùng. Từ nhỏ, tôi đã chẳng mặn mà gì với việc dùi mài kinh sử nên lúc lớn cũng chỉ sống dựa vào nếp nhà. Nhiều người nói tôi trăng hoa ong bướm nhưng tôi thì không nghĩ vậy, vì từ khi lớn lên tới giờ, tôi chỉ thích có mỗi một người đó là Vũ Thị Thiết người con gái ở Nam Xương, nhà nghèo nhưng nổi tiếng khắp nơi về nết na và tư dung tốt đẹp. Tôi thưa với mẹ. Tính tháng ngày tốt, mẹ sửa soạn trăm lạng vàng, sang nhà Vũ Nương xin cưới nàng cho tôi.

Tuy là con nhà nghèo nhưng nàng rất “công dung ngôn hạnh”, vì vậy cuộc sống lứa đôi của chúng tôi vô cùng hạnh phúc. Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, chẳng bao lâu sau, quốc gia có chiến tranh, tôi bị sung vào lính. lúc đó, Vũ Nương – vợ tôi đang mang thai đứa con đầu lòng. Ngày chia tay quyến luyến, lưu luyến đầy nước mắt. Tôi cúi đầu thương cảm nhận lời dạy bảo của mẹ già. Tôi đớn đau nghe những lời li biệt của Vũ Nương rồi lên đường ra nơi biên ải. Trong lòng vừa thương nhớ vợ con, vừa lo lắng cho mẹ già.

Ở nơi chinh chiến, tôi không nguôi nhớ về ngôi nhà đơn sơ với mẹ già và người vợ trẻ. Mãi rồi cuộc chiến cũng kết thúc, tôi được trở về quê. Vừa đặt chân tới nhà thì hay tin mẹ già đã mất, tôi vô cùng đau xót, tiếc thương. Đứa con trai – tên Đản – lúc ấy đã biết nói. Cảnh nhà hẻo lánh, thảm sầu. Tôi bế con ra thăm mộ mẹ. Đứa con chưa bén khá cha cứ quấy khóc hoài. Tôi quyết tâm dỗ con:

– Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi.

Đản thơ ngây hỏi lại tôi:

– ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói? Chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe con nói thế, liền gạn hỏi thằng bé, đứa con nói:

– Trước đây có một người đàn ông, đêm nào cũng tới, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.

Nghe lời con trẻ, tôi vừa đau lòng vừa tức giận. Vậy ra vợ tôi là người nữ giới hư hỏng, trong lúc chồng đi chiến trường thì ở nhà linh tinh với người đàn ông khác. vậy mà, ở nơi bom rơi đạn lạc, tôi đã quên cả mình để không ngừng nhớ tới nàng, mong ngày mong đêm để được về sum hiệp với nàng.

Về tới nhà, tôi la um lên cho lại gan. Vợ tôi đã hết lời thanh minh, láng giềng đã hết lời khuyên giải, nhưng mặc, tôi đuổi Vũ Nương đi. Biết tôi không tin vào sự thực, nàng đớn đau ôm con lần cuối cùng rồi ra khỏi nhà.

Chiều muộn hôm đó, tôi nghe tin nàng đã gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Tuy vẫn giận nhưng tôi cũng mang lưới ra để vớt xác nàng nhưng vớt mãi suốt đêm cũng chẳng thấy đâu.

Một đêm vắng vẻ, tôi ngồi ôm con bên ngọn đèn mới thắp, lòng rầu rĩ nghĩ tới Vũ Nương. Bỗng thằng bé reo lên:

– Cha Đản lại tới kia kìa!

Tôi vội hỏi đâu thì nó chỉ vào cái bóng của tôi trên tấm vách. Tôi chợt hiểu ra mọi chuyện. Trời ơi! Chính tôi đã làm thịt vợ mình. Vợ tôi đã chết oan uổng vì sự hồ đồ, đa nghi, cả ghen, ích kỉ,… của chính tôi. Tôi hối hận quá. Nhưng muộn mất rồi. Chính tôi đã làm tôi mất vợ, làm lẽ Đản mất mẹ. Tôi ăn năn quá nhưng muộn mất rồi, muộn mất rồi…

Xem thêm: Top 15+ mẫu Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương ngắn gọn

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 4

Thời gian qua nhanh như cơn gió thoảng, chỉ mới thoáng chốc đã hơn hai mươi năm trôi qua, thế nhưng, sự việc ấy vẫn cứ như mới xảy ra ngày hôm qua vậy. tới tận bây giờ, nỗi hối hận vẫn chưa bao giờ nguôi ngoai trong lòng Trương Sinh tôi. Sự ghen tuông mù quáng, sự nghi kị với vợ của mình đã khiến tôi mất đi một người vợ hiền dịu, nết na, khiến cho hạnh phúc gia đình tan vỡ.

Gia đình họ Trương tôi vốn chỉ có tôi là con trai duy nhất nên ngay từ nhỏ, tôi đã được cha mẹ vô cùng nuông chiều. Tình cách của tôi đặc biệt không tin tưởng người khác tuyệt đối bao giờ, ngay cả với những người thân trong nhà. tới tuổi dựng vợ gả chồng, trong làng có nàng Vũ Nương, tính tình hiền dịu hết mức, lại xinh đẹp, nết na, tôi mến dung hạnh của nàng mà nhờ mẹ đem trầu cau cùng trăm lạng vàng sang rước nàng về làm vợ. Tuy là vợ chồng chung chăn chung gối, nhưng tôi cũng không thực tin tưởng Vũ Nương, bởi vậy nên luôn phòng ngừa nàng trong mọi chuyện. Nhưng Vũ Nương quả chẳng phụ lòng tôi và Trương gia luôn xử sự vô cùng khéo léo mọi chuyện, nên lấy nhau mà hai vợ chồng tôi chưa từng bao giờ bất hòa.

Thế nhưng, có những sự việc tới thật bất thần quá sức với tôi! Từ nhỏ, tôi vốn dựa mình là con nhà hào phú, nên chưa từng ngó qua sách vở, nghĩ rằng chỉ cần có tiền thì có thể làm được mọi điều. tới lúc triều đình có chiến sự biên ải, tuyển lính sung quân, tôi cũng vẫn nghĩ, mình con nhà hào môn, sẽ không bị bắt đi lính biên ải xa kia. Thế nhưng, tuy tôi con nhà hào phú thật, nhưng vì không có học vấn nên trong danh sách bắt đi lính đánh Chiêm Thành, tên tôi ở ngay trước tiên. Biết không thể tránh khỏi, tôi đành lòng chuẩn bị ra đi. tới ngày tôi đi, mẹ tôi nuốt nước mắt mà dặn rằng:

– Nay con phải ra đi vì việc quân việc nước, mẹ biết rằng đây là thời cơ để hoá nhi dựng nên sự nghiệp, công danh cho mình. Thế nhưng, ngoài chiến trường, binh đao khó biết, con hãy biết giữ mình thận trọng. Đừng vì tham công danh, lợi ích mà mắc lừa quân địch. Mẹ chẳng mong con về mang được tiếng thơm, chỉ mong sao con trai mẹ trở về trong bình an là được. Con hãy nghe lời mẹ dặn thì mẹ ở nhà mới yên lòng được.

Tôi nghe lời mẹ dặn hết sức kính cẩn, quỳ xuống đất, dập đầu mà vâng lời mẹ. Còn Vũ Nương – vợ tôi, nàng rầu rĩ rót chén rượu đầy tràn rồi dặn tôi rằng:

– Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm, vang danh trở về quê cũ, chỉ xin ngày về, chàng mang theo được hai chữ bình yên trở lại, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường, rợ man chạy tội, vương sư uổng công; lời tâu công lớn phá giặc đã chầy, kỳ hứa thay quân hóa muộn, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng. Trong mảnh trăng Trường An, nhanh tay đập áo rét, ngắm liễu tàn rủ bóng động nỗi niềm biên ải xa xôi. Giả sử có muôn vàn thư tín, chỉ e không một tin về. Chàng ở nơi xa xôi, còn mình thiếp ôm nỗi quan hoài, thương nhớ!

Vũ Nương nói xong mà nước mắt đã chảy tràn, khiến tôi và mọi người không khỏi xúc động. Vợ tôi vẫn luôn hiền dịu như thế, chu đáo như thế, lúc ấy, tôi chỉ mong rằng mấy năm ròng rã xa vắng, nàng hãy giữ trọn một đạo với chồng là được. Lạy mẹ già thêm một lạy, ta vội xách tư trang quay gót, tới chỗ tập hợp lính tráng sung quân.

Miền biên ải xa xôi, ngày đêm hành quân vất vả. Ba năm ròng rã rã đánh giặc Chiêm Thành, vào sinh ra tử đã không ít lần, cuối cùng quân giặc ngoan cố cũng đã chịu đầu hàng. Ba năm ròng rã, cuối cùng tôi cũng được trở về nhà.

Thế nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang. Về tới nhà, tôi nhận được tin rằng, mẹ tôi vì ngóng chờ tin con trai nơi biên ải, đã lâm bệnh mà qua đời, còn tôi thì có thêm một đứa con trai tên là Đản. Mẹ mất, trong lòng tôi buồn vô hạn, cũng may còn có đứa con trai này khiến tôi có chút niềm vui trong lòng. Còn vợ tôi, Vũ Nương, nàng vẫn vậy, vẫn luôn ân cần, nhẹ nhõm và chu đáo như thế, mọi việc trong nhà từ khi tôi đi, mẹ mất, nàng một mình quán xuyến tất thảy. Ngày tôi trở về, nàng vui mừng vô cùng, vợ chồng con cái lại được quây quần sum họp hưởng hạnh phúc.

ngày hôm sau, tôi dẫn con trai ra ngoài thăm mộ người mẹ già, thế nhưng, thằng bé nhất định không chịu theo tôi còn gào khóc om sòm. Tôi mới dỗ ngon dỗ ngọt nó rằng:

– Con nín đi, đừng khóc nữa mà cha buồn lòng! Cha rời xa bà ba năm, nay trở về mà bà đã mất, thật trớ trêu thay!

Đứa con tôi mới ngây ngô nhìn tôi rồi hỏi:

– ơ hay, ông cũng là cha của tôi sao? Ông biết nói thật lạ quá chứ cha tôi trước kia chẳng nói gì cả bao giờ!

Ô, sao có chuyện lạ đời, tôi đi lính đã ba năm nay, năm nay mới trở về, mới được gặp con trai, sao nó lại nói đã từng có cha trước kia, việc này là thế nào? Tôi mới gặng hỏi đứa con:

– Cha trước kia là ai? Sao lại tới mà không nói gì?

Câu trả lời của đứa con làm tôi lặng người đi:

– Trước đây, ông chưa về, đêm nào cha tôi cũng tới ngồi cùng mẹ tôi, mẹ làm gì cũng làm theo, mẹ ngồi cũng ngồi, đi cũng đi, nhưng chẳng bao giờ bế tôi cả!

Một người đàn ông đêm nào cũng tới ư? Trời ơi, một người phụ nữ có chồng ở nhà chồng một mình vậy mà còn dẫn đàn ông tới ở qua đêm ư? Phải chăng Vũ Nương kia đã làm gì có lỗi với Trương Sinh tôi, phải chăng nàng ta đã phản bội tôi mà thất tiết với ai rồi? Ba năm chờ chồng mà lại qua lại với người đàn ông khác, sao còn xứng với tôi đây?

Về tới nhà, tôi mắng vợ một trận thật lớn để lại gan. Tôi mắng nàng ta là người phụ nữ hư thân mất nết, không biết xấu hổ, chồng đi chinh chiến ba năm lại chẳng biết giữ trọn đạo làm vợ. Vũ Nương lúc đầu ngạc nhiên, nàng trân mắt nhìn tôi đăm đăm, rồi nàng khóc mà rằng:

– Thiếp vốn con nhà nghèo, may mắn được gả cho chàng, vào Trương gia cùng chàng lập nên ơn nghĩa vợ chồng. Chia xa khi vừa lập thất gia được nửa năm, xa chàng, thật lòng thiếp vô cùng buồn tủi! Ba năm chàng rời xa, tưởng lòng đã lạnh, chưa một lần thiếp dám nghĩ tới người nào khác, ngõ liễu tường hoa chưa bao giờ ngó ngàng. Thiếp đã giữ trọn đạo vợ chồng với chàng, mong rằng chàng hãy soi tỏ, đừng vội tin lời người ngoài mà nghi oan cho thiếp!

Thế nhưng, những lời nói ấy của nàng khi ấy, tôi chẳng tin lấy nửa lời. Trong lòng tôi chỉ còn sự giận dữ vì bị phản bội, chỉ một mực nghi kị nàng đã làm việc có lỗi với tôi. Tôi chưa từng kể với nàng, tôi nghe con trai nói, mặc dù nàng gặng hỏi, tôi cũng chưa từng để tâm những lời nói thanh mình của nàng. nếu như khi ấy, tôi không ghen tuông mù quáng mà biết lắng tai Vũ Nương, lắng tai những lời giảng giải của nàng, chịu nghe những lời khuyên ngăn của láng giềng thì tôi đã không phải chịu cảnh chăn lìa gối chiếc với nàng bao năm qua.

Lúc ấy, tôi chỉ một mực nghĩ rằng nàng thất tiết, mỗi ngày đều sử dụng lời tệ bạc mà nhiếc mắng, đánh đuổi nàng đi. Vào ngày thứ bảy sau chuyện đó, Vũ Nương vừa khóc vừa nói với tôi rằng:

– Thiếp nương tựa vào chàng vì niềm vui gia đình, vì con trai của chúng ta, chưa bao giờ có ý nghĩ rời xa gia đình này. Đâu thể ngờ, chàng rời đi ba năm, trở về lại vì một lời của kẻ khác mà nghi oan nghĩ rằng thiếp ở nhà không giữ trọn đạo vợ chồng. Nay sự đã tới nước này, thiếp cũng không thể trần tình, thanh minh với chàng được nữa. Thiếp đâu có thể còn dám ngước nhìn lên núi Vọng Phu cao vời vợi kia nữa!

Thế nhưng, những lời ấy đâu lọt vào tai tôi nửa chữ, tôi chỉ một mực chì chiết, nghi kị nàng. Nói xong, nàng đứng dậy, tắm rửa thay quần áo rồi ra đi. Lúc đó, tôi cứ tưởng, nàng thẹn với chồng con, với thôn ấp nên ra đi, nào ngờ đâu, nàng lại ra sông mà gieo mình xuống, chỉ để chứng tỏ lòng trung trinh của mình.

Nghĩ lại tới đây, tôi thật vô cùng ăn năn, chỉ vì sự nghi ngờ vô cớ của mình mà đã đẩy người con gái dịu dàng, xinh đẹp như vợ tôi vào chốn đường cùng. Lúc nghe tin nàng gieo mình xuống sông, tôi tuy còn giận ở trong lòng nhưng nghĩ lại ơn nghĩa vợ chồng, tìm người vớt thây nàng, thế nhưng chẳng thấy đâu cả. Lòng ôm sầu hận, tôi không thể nào ngủ được. Một buổi tối, khi đang ngồi cùng con trai bên chiếc đèn khuya hiu hắt thì ngẫu nhiên con trai tôi reo lên rằng:

– Cha Đản lại tới rồi!

Tôi bất thần ngẩng đầu nhìn tứ phía, nhưng chẳng thấy tăm khá một người nào, tưởng con chơi trò nói đùa, mới gặng hỏi con ở đâu. Nó mới nhanh chân chạy lại bức vách rồi trỏ vào cái bóng của tôi in trên vách mà bảo:

– Đây này!

Tôi như chết lặng đi, giờ thì tôi đã hiểu mọi cơ sự rồi. Chắc hẳn vợ của tôi đã nói với con rằng cái bóng trên vách là cha của nó. Tôi đã thật ngu ngốc khi không nói rõ ràng với vợ của mình, để giờ đây, dù ăn năn, tôi cũng không thể làm gì được nữa. Vũ Nương của tôi đã không thể trở về kế bên tôi được nữa rồi!

tháng ngày cứ trôi qua chậm rãi, nỗi ăn năn vì đánh rơi người vợ hiền cứ day dứt trong lòng tôi. Cho tới một hôm, có người tự xưng là Phan Lang, tới tìm gặp tôi. Tôi lạ thường bởi tôi không hề biết người này. Thế nhưng, người tên Phan Lang ấy đem tới cho tôi một tin còn đáng giật thột hơn nữa: vợ tôi còn sống.

Ban đầu, tôi không tin, chỉ coi đó là trò đùa của anh ta. Thế nhưng khi anh ta đưa chiếc xoa vàng rồi kể câu chuyện phiêu bạt dưới thủy cung của vua Nam Hải, gặp lại vợ tôi, cùng nàng hàn ôn rồi được nhờ là đưa cho tôi chiếc xoa này, bấy giờ tôi mới tin là sự thực. Phan Lang còn dặn rằng, Vũ Nương muốn nhờ tôi lập một đàn tràng tẩy oan ở bến Hoàng Giang – nơi vợ tôi gieo mình xuống thì nàng sẽ trở về. Tôi vô cùng kinh sợ, bán tín bán nghi, thế nhưng, nếu như Vũ Nương – vợ tôi được trở về thì thế nào, tôi cũng ưng ý.

Vậy là tôi bèn theo lời nàng, lập một đàn tràng ở bến Hoàng Giang ba ngày ba đêm ròng rã rã, vậy nhưng vẫn chưa thấy Vũ Nương xuất hiện. tới ngày thứ tư, lúc tôi tưởng chừng hy vọng đã dần cạn kiệt thì quả nhiên thấy một chiếc kiệu hoa rực rỡ xuất hiện giữa dòng nước mênh mông. Theo sau kiệu lớn là hơn năm mươi chiếc xưa, với cờ tàn tán lọng, cả một khúc sông bỗng rực rỡ, chói lóa, huyền ảo. Rồi từ trong kiệu hoa, Vũ Nương bước ra, mặc trên mình bộ y phục nhấp nhánh, tôi hoa mắt chờ đợi, khi xưa nàng đã vô cùng xinh đẹp, khoác lên bộ y phục này thì càng xinh đẹp hơn gấp bội phần. Thế nhưng, khi tôi vội vàng chứa tiếng gọi thì nàng không từ từ tiến lại bờ mà chỉ đứng giữa dòng mà nói vọng vào với tôi:

– Đa tạ chàng đã giúp thiếp thực hiện ước nguyện của mình. Nhưng nay mây tan gió tạnh, thiếp đã thề nguyện ở lại cùng sống chết để cảm tạ ơn nghĩa của Đức Linh Phi. Thiếp không thể trở về nhân gian sum họp cùng chàng được nữa! Mong chàng hãy nuôi nấng, săn sóc bé Đản nên người, vậy là thiếp thoả nguyện rồi. Thiếp đa tạ chàng!

Nói xong, nàng vén kiệu mà bước vào, cả kiệu hoa và đoàn xe cứ thoắt ẩn thoắt hiện rồi nhoang nhoáng mờ dần, biến mất vào trong hư vô. Tôi vội vã gọi tên nàng, thế nhưng, chẳng có ai đáp lại lời tôi nữa, Vũ Nương đã thực sự biến mất rồi. Tôi thất thểu bước về nhà, trong lòng ôm đầy nỗi ăn năn. Chính tôi là người đã đẩy nàng vào bước đường cùng, giờ đây, chẳng có gì có thể cứu vãn được sự việc nữa. Mọi việc thực sự đã kết thúc rồi.

Giờ đây, hơn hai mươi năm sau khi sự việc đã xảy ra, tôi vẫn ôm trong mình nỗi ăn năn vô vàn. Dù sau này, tôi đã dần sửa đổi tâm tình mong có thể vơi bớt nỗi lòng, thế nhưng, hình bóng của Vũ Nương vẫn luôn luôn hiện ra trong tâm trí tôi. Có lúc tôi mong được trở lại là Trương Sinh của hai mươi năm trước để có thể nói một lời xin lỗi với người vợ thân yêu của mình. Thế nhưng, mọi chuyện đã lỡ, chẳng có gì có thể thay đổi được nữa. Con trai tôi đã lớn khôn, thành người, chuẩn bị thành gia lập thất, tôi đã nuôi dạy nó bằng cả tình yêu với Vũ Nương. hy vọng nàng ở dưới chốn thủy cung cũng luôn dõi theo cha con tôi mỗi ngày và vui mừng vì điều đó.

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 5

Tôi nhớ mãi khi bóng vía làng mờ nhạt trên sông, rồi từ từ biến mất. Tôi tha thiết gọi tên nàng nhưng không có hồi đáp, nàng cứ vậy mà biến mất, vĩnh viễn rời xa cha con tôi. Tất cả cũng chỉ vì tôi ghen tuông mù quáng, mà giờ tôi đã mất người vợ thảo hiền.

Tôi vốn quê ở Nam Xương, gia đạo giàu có nhưng vì ham chơi mà bỏ bễ học hành, nên vừa ngoài hai mươi, mẹ tôi đã kén vợ cho tôi. Nàng tên Vũ Nương, người con gái thùy mị nết na, lại thêm phần tư dung tốt đẹp. Tôi vô cùng hài lòng về vợ của mình, nhưng tính tôi lại hay ghen, sợ vợ mình xinh đẹp tương tự sẽ có rất nhiều người theo đuổi nên tôi vẫn hết sức phòng ngừa. Biết tôi tính tương tự nên nàng hết sức giữ gìn, luôn chăm lo suy nghĩ cho gia đình. Tôi cảm thấy thật mĩ mãn và ngày càng yêu nàng hơn.

Nhưng cuộc sống vợ chồng hạnh phúc chẳng được bao lâu thì chiến tranh xảy ra, tôi được gọi trong danh sách đi lính. Lúc này mới hối hận làm sao, nếu như khi xưa tôi siêng năng học hành thì có thể bây giờ tôi không phải xa mẹ già, vợ bụng mang dạ chửa.

Ngày đưa tiễn tôi lên đường cả mẹ và nàng đều khóc hết nước mắt, không cầu tôi dành công danh, chỉ cần có thể mạnh khỏe, bình an trở về. Những tháng ngày ở chiến trường tôi nhớ gia đình tha thiết, nhớ mẹ già ở nhà ngóng chờ, nhờ người vợ hiền thục. Tôi chỉ mong chiến tranh nhanh chóng kết thúc để được trở về sum hiệp bên gia đình.

Thời gian nhanh chóng qua đi, chiến tranh kết thúc, tôi về nhà lòng đầy hứng khởi, mong nhớ. Nhưng ngày tôi về thì mới hay tin, mẹ vì thương nhớ tôi quá nhiều mà sinh bệnh nên đã mất. Tôi bế đứa con nhỏ hơn một tuổi ra thăm mộ mẹ, nhưng bé Đản khóc lớn, không chịu đồng hành tôi, tôi dỗ ngon dỗ ngọt:

– Nín đi con, đừng khóc! Bà mếch lòng cha đã buồn khổ lắm rồi!

Con tôi ngạc nhiên nói:

– ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không giống như cha trước kia chỉ nín thin thít.

Tôi ngạc nhiên, sững sờ, tim bỗng nhói đau, máu ghen trong người nổi lên, tôi hỏi dồn thằng bé về người đàn ông đó. Thằng bé lại hồn nhiên đáp lại:

– Đêm nào cũng có một người tới, mẹ ngồi người đó cũng ngồi, mẹ đi người đó cũng đi, nhưng người đó không bao giờ bế Đản cả.

tới giờ tôi không còn đủ tĩnh tâm nữa, tôi đi lính lâu ngày, vợ tôi thảo hiền, nết na chỉ là cái vỏ ngoại hình. Tôi đi lính đã ngay thức thì thất tiết với tôi. Tôi nổi nóng đùng đùng, về nhà đánh đuổi vợ tôi đi. Nàng tha thiết van xin:

– Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa từng bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin đãi đằng để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.

Nhưng những lời nàng đối với tối lúc đó chỉ là gian dối, ngụy biện, tôi gạt phát đi và sử dụng những lời lẽ đay nghiến, trì triết để đuổi nàng đi. Giá lúc ấy tôi tĩnh tâm hơn, nói rõ nguyên do cho nàng giảng giải thì gia đình tôi đã không phải chịu cảnh li tán như ngày ngày hôm nay.

Uất ức vì không được giãi bày, Vũ Nương đã tắm gội chay sạch và tìm tới bến sông Hoàng Giang để tự vẫn nhằm minh chứng cho tấm lòng trong sạch của mình. Lúc ấy tôi vẫn chưa biết rõ sự tình nhưng biết vợ tự vẫn cũng hết sức đau lòng, tôi ra bến sông để vớt xác nhằm chôn chứa nàng chu đáo nhưng không tài nào tìm thấy, tôi và con đành trở về nhà.

Cuộc sống một mình gà trống nuôi con quả chẳng dễ dàng, đêm ấy tôi thắp đèn bỗng bé Đản reo lớn:

– Cha Đản lại tới kìa. Chính là người cha vẫn tới cùng mẹ đó.

Bấy giờ tôi mới biết mình đã nghi oan cho vợ. Trong những ngày xa tôi, vì thương nhớ và cũng muốn bù đắp cho con, để bé Đản được nhận tình yêu đủ đầy của cha và mẹ mà nàng đã trỏ bóng mình bảo cha Đản. Tôi lại ghen tuông mù quáng, nghe lời đứa trẻ thơ ngây, không phân tích rõ nguồn cơn nên đã gây nên cái chết oan trái cho nàng. Tôi ăn năn lắm.

Thời gian cứ thế thấm thoắt trôi qua. Bỗng một hôm Phan Lang người cùng làng tôi mang chiếc hoa mà ngày xưa vợ vẫn hay sử dụng tới và nói lời Vũ Nương nhắn gửi, bảo tôi lập đàn tẩy oan trên sông, đốt cây đang chiếu xuống nước để Vũ Nương trở về. Tôi nghe xong bán tín bán nghi, nhưng nhìn chiếc hoa đúng là của vợ tôi thật. Tôi đành lập một đàn tẩy oan trên sông, Vũ Nương trở về thật, nhìn thấy tôi nàng đã nói:

– Thiếp cảm tạ tấm lòng chàng, ơn đức Linh Phi cứu mạng thiếp đã hứa sẽ ở đó cùng Linh Phi, sông chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng thiếp chẳng về nhân gian được nữa.

Tôi còn chưa kịp nói lời xin lỗi nàng, Vũ Nương đã biến mất.

Khi thấy nàng trở về mà không một lời trách cứ, oán thán càng làm tôi đớn đau, day dứt hơn. Chỉ một phút nóng tính, chỉ vì tính ghen tuông tôi đã cướp đi tình yêu thương của mẹ mà bé Đản vốn được lợi, và tôi đã đánh rơi hạnh phúc của chính mình, mất người vợ thảo hiền, dịu dàng. Cả đời này tôi sẽ sống trong day dứt, khổ cực, và mãi mãi không quên nàng…

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 6

Đã bao năm trôi qua, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được những gì mình đã làm gây ra khiến vợ tôi khiến nàng lựa chọn tuyến đường bức tử. Một nỗi ăn năn gớm ghê luôn vò xé nỗi lòng mỗi khi đêm về. Tôi muốn kể cho những bạn nghe câu chuyện sai phép này, để ai đó đừng bước vào vết xe đổ của tôi.

Tôi sinh ra trong một gia đình khá giả ở Nam Xương. Lúc bấy giờ, trong cùng làng có một người con gái đẹp tuy nhà nghèo có nhưng đẹp cả người đẹp nết, nàng tên là Vũ Thị Thiết, mọi người xung quanh thường gọi là Vũ Nương. Mến vì dung hạnh đoan trang, nên tôi đã xin mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ. Chúng tôi sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc và cùng nao nức chờ đợi đứa con đầu lòng. bất thần, chiến tranh xảy ra, triều đình bắt lính đi tòng quân. Do xưa nay chẳng màng học hành nên tôi có tên trong danh sách. Không còn cách nào khác, tôi đành phải chia tay mẹ già, vợ trẻ để lên đường ra trận.

Vào ngày tòng quân, mẹ già nắm chặt tay tôi, ngậm ngùi khuyên:

– Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy là hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách, phải lấy việc giữ mình làm trọng, biết gặp nạn thì lui, lượng sức mà đánh, đừng nên tham miếng mồi thơm, để lỡ mắc vào lưới cá. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có như thế thì mẹ ở nhà mới đỡ lo lắng vì con được.

Tôi quỳ xuống vâng lời mẹ dạy. Vợ tôi rót chén rượu đầy nâng bằng hai tay đưa cho tôi và nói rằng:

– trượng phu đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường, rợ man chạy tội, vương sư uổng công; lời tâu công lớn phá giặc đã chầy, kỳ hứa thay quân hóa muộn, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng. Trông mảnh trăng Trường An , nhanh tay đập áo rét, ngắm liễu tàn rủ bóng động nỗi niềm biên ải xa xôi. Giả sử có muôn hàng thư tín, chỉ e không một tin về.

Nàng nói tới đó, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi tiệc tiễn vừa tàn, tôi dứt áo lên đường. Mọi vật xung quanh vẫn như cũ, nhưng lòng tôi đã ngùi ngùi bởi cảnh sinh li và mối tình nghìn dặm quan sơn cách trở.

Ở chiến trường hơn một năm trời, may mắn được trở về sum hiệp với gia đình. Nhưng sét đánh ngang tai, mẹ tôi vì quá thương nhớ con mà ốm đau biền biệt, cuối cùng cụ đã qua đời. Tôi đau xót biết bao, định bế con trai – bé Đản mới hơn một tuổi ra thăm mộ. Nhưng con từ lúc đẻ chưa họp mặt, xa lạ nằng nặc không chịu đi. Dọc đường, bé Đản khóc, tôi dỗ: “Nín đi con, bà mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi”. Bé Đản liền nói tôi không phải là cha nó, cha nó là người trước đây đêm nào cũng tới bên mẹ. Tôi choáng váng. Đất dưới chân tôi như sụp xuống.

Tôi cứ lần thần nghĩ ngợi, Vũ Nương là một người vợ ngoan hiền, tiết hạnh, đời nào hơn một năm xa vắng, nàng lại trở nên hư hỏng tương tự sao? Tôi bỗng thấy căm giận Vũ Nương. Ghen tuông mù quáng khiến tôi bùng lên, không có cách gì dập tắt được. Về tới nhà, tôi la mắng om sòm cho lại gan. Vũ Nương sững sờ sửng sốt. Nàng vừa khóc vừa thanh minh : “Thiếp vốn con nhà nghèo túng, được nương tựa nhà giàu, vẫn lấy sự nết na thuỳ mị, công dung ngôn hạnh làm đầu. Vợ chồng sum họp chưa được bao lâu, chia xa chỉ vì lửa binh chứ không vì lí do gì khác. Trong ba năm cách biệt, thiếp một mực giữ gìn tiết hạnh, không tô son điểm phấn, không bén gót chốn chơi bời hoa liễu, một mực thương nhớ và chung thuỷ với chàng. Xin chàng hãy tin thiếp, đừng nghi oan cho thiếp mà tội nghiệp…”.

Nhưng bao nhiêu lời nói chân thật cũng không làm dịu được mối nghi ngờ trong tôi. láng giềng thương nàng tần tạo, săn sóc mẹ chồng con thơ chu đáo, ma chay cho mẹ làm tương tự thân sinh của chính mình nên ra sức bênh vực và biện bạch cho nàng. Nhưng tôi không nghe ai hết. Lúc đó tôi chẳng quan tâm lời ai nói, tôi nhiếc mắng không tiếc lời rồi đánh đuổi nàng đi. Cảm thấy đã không thể thuyết phục được tôi, Vũ Nương cực chẳng đã nói trong đớn đau, xót xa, đắng cay rằng :

– Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng, vì có cái thú vui nghi gia nghi thất, có sự yên ổn được tựa bóng cây cao. Đâu ngờ ân tình tựa lá, sàm báng nên non. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa gãy cuống, kêu xuân cái én lìa màn, nước thẳm buồm xa, đâu còn thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.

Tôi đã không biết, nàng lại đi tắm gội sạch sẽ, ra bến Hoàng Giang than khóc, thề nguyền và gieo mình xuống sông tự vẫn.

Về phần tôi, mối nghi ngờ không chỉ làm hại Vũ Nương mà còn làm khổ tôi, dằn vặt tôi không phút nào yên. Tuy giận Vũ Nương thất tiết nhưng khi nàng tự vẫn, tôi cảm thấy lòng đau nhói. Tôi cố vớt thây nàng để chôn nhưng tìm mãi không được. Một đêm, tôi ngồi buồn bã trước ngọn đèn khuya. Chợt đứa con trai bật thốt: “Cha Đản lại tới kia kìa!”, rồi chỉ tay vào bóng tôi in trên vách: “Đây này!”. Tôi ngỡ ngàng và hiểu ra tất cả. Thì ra, ngày thường lúc tôi vắng nhà, Vũ Nương hay trỏ bóng mình trên tường đùa con và báo đó là cha Đản. Tôi thấu hiểu nỗi oan động trời của vợ và trách mình sao quá nhẫn tâm, nhưng mọi chuyện trót đã qua rồi, không làm sao thay đổi được nữa…

Câu chuyện của tôi, những sai phép của tôi là có thật. Tôi đã đánh rơi hạnh phúc của chính mình. Kể ra câu chuyện đau lòng này, tôi chỉ muốn mọi người đừng xử sự nông nổi, cả giận mất khôn như tôi. Hãy tin yêu con người, thực lòng yêu thương người thân để gia đình không rơi vào những thảm kịch đớn đau.

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 7

Bóng nàng ẩn hiện trên sông, nói lời tạ từ tôi và con, rồi nàng biến mất…. Tôi tha thiết gọi tên nàng để níu kéo nhưng nàng đã vĩnh viễn biến mất, vĩnh viễn rời xa cha con tôi. Tất cả cũng chỉ tại tính ghen tuông mù quáng, mà giờ tôi đã mất người vợ thảo hiền, nết na.

Tôi vốn quê ở Nam Xương, nhà giàu có nhưng tôi lại ham chơi hơn ham học, nên vừa ngoài hai mươi, mẹ tôi đã kén vợ cho tôi. Nàng tên Vũ Nương người con gái thùy mị nết na, lại thêm phần tư dung tốt đẹp. Tôi hài lòng về vợ mình lắm, nhưng tính tôi lại hay ghen, sợ vợ mình xinh đẹp, thùy mị tương tự sẽ nhiều người theo đuổi nên tôi vẫn hết sức phòng ngừa. Biết tôi tính tương tự nên Vũ Nương cũng hết sức giữ gìn, bởi vậy gia đình tôi luôn được êm đềm, yên ấm. Bởi vậy, tôi càng yêu nàng hơn.

Nhưng cuộc sống gia đình hạnh phúc chẳng được bao lâu, chiến tranh xảy ra, tôi đứng đầu trong danh sách đi lính. Ngày đưa tiễn tôi lên đường cả mẹ và nàng đều khóc hết nước mắt, mong tôi bình an trở về. Những năm tháng ở chiến trường tôi nhớ gia đình tha thiết, nhớ mẹ già ở nhà ngóng chờ, nhờ người vợ hiền thục. Tôi chỉ mong chiến tranh nhanh nhanh kết thúc để tôi được trở về bên gia đình.

Ba năm chiến tranh qua đi, tôi về nhà lòng đầy hứng khởi, mong nhớ. Nhưng ngày tôi về lại ấp xuống biết bao tai họa. Mẹ tôi vì thương nhớ tôi quá nhiều mà sinh bệnh nên đã mất. Tôi bế đứa con nhỏ hơn một tuổi ra thăm mộ mẹ, nhưng bé Đản khóc lớn, không chịu đồng hành tôi, tôi dỗ ngon dỗ ngọt:

Nín đi con, đừng khóc! lòng cha đã buồn khổ lắm rồi!

Con tôi nói:

Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không giống như cha trước kia chỉ nín thin thít.

Tôi ngạc nhiên, sững sờ, tim bỗng nhói đau, máu ghen trong người nổi lên, tôi hỏi dồn thằng bé về người đàn ông đó. Thằng bé hồn nhiên đáp lại:

– Đêm nào cũng có một người tới, mẹ ngồi người đó cũng ngồi, mẹ đi người đó cũng đi, nhưng người đó không bao giờ bế Đản cả.

tới giờ tôi không còn đủ tĩnh tâm nữa, vợ tôi thảo hiền, nết na chỉ là cái vỏ ngoại hình. Tôi đi lính đã ngay thức thì thất tiết với tôi. Tôi nổi nóng đùng đùng, về nhà đánh đuổi vợ tôi đi. Nàng tha thiết van xin:

– Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa từng bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin đãi đằng để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.

Nhưng những lời nàng đối với tối lúc đó chỉ là gian dối, ngụy biện, tôi gạt phát đi và sử dụng những lời lẽ đay nghiến, trì triết để đuổi nàng đi. Giá lúc ấy tôi tĩnh tâm hơn, nói rõ nguyên do cho nàng giảng giải thì gia đình tôi đã không phải chịu cảnh li tán như ngày ngày hôm nay.

Uất ức vì không được giãi bày, Vũ Nương đã tắm gội chay sạch và tìm tới bến sông Hoàng Giang để tự vẫn nhằm minh chứng cho tấm lòng trong sạch của mình. Lúc ấy tôi vẫn chưa biết rõ sự tình nhưng biết vợ tự vẫn cũng hết sức đau lòng, tôi ra bến sông để vớt xác nhằm chôn chứa nàng chu đáo nhưng không tài nào tìm thấy, tôi và con đành trở về nhà.

Cuộc sống một mình gà trống nuôi con quả chẳng dễ dàng, đêm ấy tôi thắp đèn bỗng bé Đản reo lớn:

– Cha Đản lại tới kìa. Chính là người cha vẫn tới cùng mẹ đó.

Bấy giờ tôi mới biết mình đã nghi oan cho vợ. Trong những ngày xa tôi, vì thương nhớ và cũng muốn bù đắp cho con, để bé Đản được nhận tình yêu đủ đầy của cha và mẹ mà nàng đã trỏ bóng mình bảo cha Đản. Tôi lại ghen tuông mù quáng, nghe lời đứa trẻ thơ ngây, không phân tích rõ nguồn cơn nên đã gây nên cái chết oan trái cho nàng. Tôi ăn năn lắm.

Thời gian cứ thế thấm thoắt trôi qua. Bỗng một hôm Phan Lang người cùng làng tôi mang chiếc hoa mà ngày xưa vợ vẫn hay sử dụng tới và nói lời Vũ Nương nhắn gửi, bảo tôi lập đàn tẩy oan trên sông, đốt cây đang chiếu xuống nước để Vũ Nương trở về. Tôi nghe xong bán tín bán nghi, nhưng nhìn chiếc hoa đúng là của vợ tôi thật. Tôi đành lập một đàn tẩy oan trên sông, Vũ Nương trở về thật, nhìn thấy tôi nàng đã nói:

– Thiếp cảm tạ tấm lòng chàng, ơn đức Linh Phi cứu mạng thiếp đã hứa sẽ ở đó cùng Linh Phi, sông chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng thiếp chẳng về nhân gian được nữa.

Tôi còn chưa kịp nói lời xin lỗi nàng, Vũ Nương đã biến mất…

Nàng trở về không hề trách cứ, oán thán tôi một lời. Điều ấy càng làm tôi đớn đau, day dứt hơn. Chỉ một phút nóng tính, chỉ vì tính ghen tuông tôi đã cướp đi tình yêu thương của mẹ mà bé Đản vốn được lợi, và tôi đã đánh rơi hạnh phúc của chính mình, mất người vợ thảo hiền, dịu dàng. Cả đời này tôi sẽ sống trong day dứt, khổ cực, và mãi mãi không quên nàng…

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 8

Tôi sinh ra trong một gia đình khá giả ở Nam Xương. Vừa tới tuổi đôi mươi thì được cha mẹ cưới vợ cho. Vợ tôi là Vũ Thị Thiết, dung mạo đoan trang, tính nết hiền lành, siêng năng.

Chúng tôi sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc và cùng nao nức chờ đợi đứa con đầu lòng sắp ra đời. bất thần, chiến tranh bùng nổ, tao loạn xảy ra khắp chốn. Nhận được lệnh sung vào lính, tôi đành chia tay mẹ già, vợ trẻ để lên đường ra trận.

Lúc tiễn đưa, mẹ già nắm chặt tay tôi, ngậm ngùi khuyên:

– Con ráng giữ mình nơi mũi tên hòn đạn, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường cho người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.

Tôi quỳ xuống vâng lời mẹ dạy. Vợ tôi rót chén rượu đầy nâng bằng hai tay đưa cho tôi và nói rằng:

– Chàng ra đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong chàng được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ. Chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao. Rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú. Dù thư tín có nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.

Nàng nói tới đây, mọi người đều ứa nước mắt. Rồi tiệc tiễn vừa tàn, tôi dứt áo lên đường. Mọi vật xung quanh vẫn như cũ, nhưng lòng tôi đã ngùi ngùi bởi cảnh sinh li và mối tình nghìn dặm quan sơn cách trở.Tôi đi được một tuần thì vợ tôi sinh con trai. Nàng đặt tên cho con là Đản. Có đứa bé, cửa nhà cũng bớt phần hiu quạnh. Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm. Mẹ già thương nhớ, lo lắng cho tôi tới nỗi lâm bệnh nặng. Biết không sống được, bà nói với vợ tôi rằng:

– Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải là không muốn đợi chồng con trở về. Song lòng tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết, chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền tới con. Chồng con nơi xa xôi, chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được, sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn. Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ.

Dứt lời, mẹ tôi nhắm mắt xuôi tay. Vợ tôi khóc lóc xót thương và toan tính chôn chứa cho mẹ tôi được mồ yên mả đẹp.

Một năm sau, giặc giã đã bị dẹp yên, tôi khăn gói trở về quê cũ. Biết tin mẹ đã qua đời, tôi đớn đau lắm! Đón đứa con trai từ tay vợ, tôi bế con ra mộ mẹ để thắp nhang. Ra tới đồng, nó quấy khóc mãi, tôi dỗ ngon dỗ ngọt sao cũng không chịu nín. Tôi bảo con:

– Nín đi con, đừng khóc nữa! Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi!

ngẫu nhiên, con tôi bi bô nói:

– ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.

Tôi ngạc nhiên gặng hỏi thì con tôi kể rằng đêm nào cũng có một người đàn ông tới nhà. Mẹ nó ngồi cũng ngồi, mẹ nó đi cũng đi theo, nhưng không bao giờ bế nó cả.

Tính tôi vốn đa nghi. Nghe con nói vậy thì cơn ghen chợt bùng lên dữ dội. Tôi vội về nhà, la hét om sòm cho lại gan. Vợ tôi ôm mặt khóc mà rằng:

– Thiếp vốn con nhà nghèo túng, may được nương tựa nhà giàu. Vợ chồng sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn, từng đã nguôi lòng, ngõ liễu đường hoa, chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết như lời chàng nói. Dám xin chàng cho thiếp được đãi đằng, để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng nghi oan cho thiếp!

Nhưng mặc cho nàng thanh minh thế nào tôi cũng không tin. Nàng hỏi tôi chuyện kia do ai nói thì tôi giấu không cho nàng biết. Tôi nhiếc mắng nàng thậm tệ rồi đuổi ra khỏi nhà, dù láng giềng hết lời bênh vực. Cuối cùng, nàng ngậm ngùi vừa nói vừa khóc:

– Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân con én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa?

Đoạn nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:

– Kẻ bạc phận này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám! Thiếp nếu như đoan trang giữ tiết, trinh trắng gìn lòng, xin vào nước làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược ưng ý chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.

Nói xong, nàng gieo mình xuống sông mà chết. Tuy giận là nàng thất tiết nhưng thấy nàng tự vẫn, tôi cũng động lòng thương, cố vớt thây nàng để chôn nhưng tìm mãi không được. Một đêm, tôi ngồi buồn bã trước ngọn đèn khuya. Chợt đứa con trai bật thốt: – Cha Đản lại tới kia kìa! rồi chỉ tay vào bóng tôi in trên vách: – Đây này! Tôi chợt hiểu ra tất cả và ăn năn vô cùng! Thì ra trong thời gian tôi vắng nhà, đêm đêm, vợ tôi thường đùa với con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản. Tôi thấu hiểu nỗi oan tày trời của vợ và trách mình sao quá nhẫn tâm, nhưng mọi chuyện trót đã qua rồi!

Ở bến sông cạnh làng, có người giữ chức quan đầu mục tên là Phan Lang, một đêm chiêm bao thấy người con gái áo xanh xin tha mạng. Sáng ra, có người biếu ông một con rùa mai xanh. Nhớ lại giấc mơ, ông liền thả con rùa ấy xuống sông.

Mấy năm sau, giặc Minh xâm phạm cửa ải Chi Lăng, nhân dân hoảng sợ lên thuyền chạy trốn ra ngoài biển, không may gặp bão lớn, chết trôi cả. Thây Phan Lang dạt vào một động rùa ngoài hải đảo. Có người nữ giới là Linh Phi trông thấy nói rằng: – Đây là vị ân nhân đã cứu sống ta thuở xưa! Rồi bà ta lấy thuốc thần cho uống. Lát sau, Phan Lang sống lại.

Linh Phi truyền mở tiệc thết đãi. Trong đám người dự tiệc, có một mĩ nhân chỉ trang điểm sơ qua, nét mặt rất giống Vũ Nương. Phan Lang bèn hỏi chuyện và được nàng cho biết mình là Vũ Thị Thiết, người cùng làng, vì oan khúc mà phải gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn và được những tiên nữ dưới thủy cung đưa về đây cùng chung sống với Linh Phi.

Trước khi Phan Lang được đưa ra khỏi thủy cung, Vũ Nương có nhờ ông ta nói với tôi rằng sẽ có ngày nàng tìm về. nếu như tôi còn nhớ tình xưa nghĩa cũ thì hãy lập một đàn tẩy oan ở bến sông.

Về tới làng, Phan Lang tìm gặp tôi, kể lại mọi chuyện, nhưng tôi không tin. Lúc ông ta đưa ra kỉ vật làm tin là chiếc hoa vàng của vợ tôi thì tôi sợ hãi nhận rằng đây đúng là vật mà nàng mang theo lúc ra đi.

Sáng ngày hôm sau, tôi làm theo đúng lời nàng dặn, lập đàn tẩy oan suốt ba ngày đêm ở bến sông. Quả nhiên, tôi nhìn thấy Vũ Nương ngồi trên chiếc kiệu hoa ở giữa dòng, theo sau là năm mươi cỗ xe trang trí cờ tán, võng lọng rực rỡ, lúc ẩn lúc hiện. Tôi vội gọi thật lớn nhưng nàng vẫn ở giữa sông mà nói vọng vào:

– Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết không bỏ. Đa tạ tình chàng, nhưng thiếp không thể trở về nhân gian được nữa!

Trong phút chốc, tất cả tan biến. Tôi gục đầu thổn thức. Một sự ăn năn gớm ghê vò xé lòng tôi. Chỉ vì một cơn ghen mù quáng mà tôi đã làm cho vợ chồng, mẹ con lâm vào cảnh sinh li tử biệt. sai phép của tôi không phương cứu chữa. Tôi chỉ còn mong ước mọi người hãy nhìn vào thảm cảnh của gia đình tôi mà rút ra bài học: Đã là vợ chồng thì hãy thương yêu, tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Có tương tự, hạnh phúc mới được bền lâu.

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 9

Đời người không ai là không phạm sai phép cả, quan trọng hơn là biết sửa sai. Thế nhưng với tôi khi mắc sai phép đã không cách nào cứu vớt được, chỉ còn lại sự đau buồn, ăn năn, xót thương về những điều đã xảy ra vài năm trước đây…Tôi – Trương Sinh sinh và lớn lên trên mảnh đất Nam Xương. Cha tôi chẳng may mất sớm, nhà chỉ còn lại một mình mẹ và tôi. Hai mẹ con nương tựa vào nhau mà sống. Mẹ luôn muốn tôi lấy vợ sớm để bà có cháu bồng bế, thêm người cho vui cửa vui nhà. tới tuổi cập kê mẹ đã tìm người mai mối rồi cưới cho tôi một cô gái vô cùng xinh đẹp, nổi tiếng đảm đang ở trong vùng tên là Vũ Thị Thiết. Tôi mừng lắm bởi gia đạo nhà mình cũng thông thường, mẹ góa con côi, tôi được cái ngoan ngoãn chịu thương chịu khó làm ăn nhưng cũng không phải con quan chức, địa chủ gì vậy mà nàng lại chịu lấy tôi. Tôi rất yêu vợ, cũng vì yêu nhiều nên thỉnh thoảng tôi hay ghen tuông xa xăm. Đó là một thói xấu nhưng vì quá yêu nàng nên tôi không kiềm chế được xúc cảm nóng tính mối khi có người đàn ông nào muốn tiếp cận hay tới sắp Vũ nương.

Gia đình nhỏ bé của tôi nay lại thêm được Vũ nương đảm đang săn sóc, vun vén mà tôi có cảm giác thật hạnh phúc, yên bình. Chắc đó là khoảng thời gian đẹp nhất thế cục tôi. Mẹ tôi đã già yếu, bà thương con dâu như chính con ruột của mình, nàng cũng rất mực hiếu thảo với bà. Chúng tôi sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc và cùng nao nức chờ đợi đứa con đầu lòng sắp ra đời. bất thần, chiến tranh bùng nổ, tao loạn xảy ra khắp chốn. Nhận được lệnh sung vào lính, tôi đành chia tay mẹ già, vợ trẻ để lên đường ra trận.

Lúc tiễn đưa, mẹ già nắm chặt tay tôi, ngậm ngùi khuyên:

– Con ráng giữ mình nơi mũi tên hòn đạn, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường cho người ta. Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được.

Tôi quỳ xuống vâng lời mẹ dạy.Còn Vũ nương, nàng rót chén rượu đầy nâng bằng hai tay đưa cho tôi và nói rằng:

– Chàng ra đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong chàng được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ. Chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao. Rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú. Dù thư tín có nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.

Nhìn hai người phụ nữ quan trọng nhất đời mình như thế, tôi xúc động ngôn nguôi. Trong lòng phát sinh cảm giác thật rét mướt và an tâm khi nhà cửa, thất gia đã có đôi bàn tay khéo léo của thê tử săn sóc. Ngày đi lính , lòng trĩu nặng quay lưng về phía ngôi nhà của chúng tôi, tôi bước đi thật nhanh, không ngoảnh đầu lại.

Tôi đi được một tuần thì vợ tôi sinh con trai. Nàng đặt tên cho con là Đản. Có đứa bé, cửa nhà cũng bớt phần hiu quạnh. Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm. Mẹ già thương nhớ, lo lắng cho tôi tới nỗi lâm bệnh nặng. Vũ nương chẳng ngại vất vả, nàng luôn luôn kề cận săn sóc mẹ tôi cho tới khi bà từ giã dương thế. Từ đó ngôi nhà nhỏ vắng đi một bóng người, chỉ còn hai mẹ con nàng sống nương tựa vào nhau. Đản không biết mặt cha nó là ai, bởi vì tôi đã đi lính ròng rã rã mấy năm trời xa vắng.

Ngày giặc bị đánh tan là lúc tôi khăn gói trở về quê nhà. Vừa tới cổng nhà nghe người láng giềng thông báo tin dữ mẹ tôi đã qua đời hơn nửa năm trước tôi khổ cực tột độ, vội vàng vứt chiếc túi cói đựng đồ sử dụng tư nhân xuống nhà, rồi vội vàng ra thăm mộ mẹ. Nhưng tôi chưa biết mẹ được chôn chứa chỗ nào nên dắt thằng bé con trai tôi đi theo, bởi lúc đó vợ tôi đang bận đi chợ mua đồ ăn về đãi tôi thắng giặc trở về. Trong lúc tôi cõng con trai đi thăm mộ mẹ, trên phố đi nó cứ khóc suốt không chịu nhận tôi là ba nó. Nó còn đấm thùm thụp vào lưng tôi bảo “Thả tôi ra ông không phải là ba tôi. Ba tôi đêm nào cũng tới”.Người xưa có câu “Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ” nên nghe con trai nói thế tôi bực lắm. Tôi tin rằng vợ tôi đã sinh hư trong lúc vắng chồng quạnh hiu, nên yếu mềm với tên nào đó rồi. Tôi vội vàng thắp hương, lạy mẹ ba lạy rồi tức tốc về nhà gặp vợ hỏi rõ đầu đuôi. Vừa đi lòng tôi vừa nóng như lửa đốt, thực sự rất tức giận.

Khi tôi bước vào nhà, vợ tôi đang loay hoay dưới bếp với rất nhiều món ngon, nàng bước ra trên mặt còn dính một vệt nhọ nồi, trông nàng lúc ấy rất xinh vô cùng duyên dáng và đáng yêu. Nhưng máu ghen trong người tôi đang lên cao ngút trời tôi không thể nào mà nguôi giận ngay được. Tôi quắc mắt hỏi vợ : Con trai nói rằng tối nào ba nó cũng tới thăm, đó là thằng nào? Thằng nào hả?. Cơn giận bùng lên như ngọn lửa, thiêu đốt hoàn toàn lí trí của tôi. Tôi nóng tính mắng mỏ ,quát tháo Vũ nương, mặc cho nàng có khóc lóc thế nào tôi cũng không màng tới. Khi cơn giận lên tới đỉnh điểm, tôi đã thẳng thừng buông lời lạnh lùng đuổi nàng đi ra khỏi nhà. Mấy người láng giềng tới can ngăn nhưng tôi còn quát cả họ, đuổi họ về. Vũ nương vẫn khóc, từng giọt nước mắt thấm ướt vạt áo nàng. Lòng tôi chợt thấy có cái gì đó nhói lên nhưng rồi ngọn lửa tức giận đã lấn lướt hết mọi thứ. Tôi mù quáng đuổi nàng đi, đóng cánh cổng nhà lại.

Vũ nương bị đuổi ra khỏi nhà, tôi cứ nghĩ nàng ấy sẽ đi về nhà mẹ đẻ hoặc tới nhà bà con nào đó xin tá túc. Nhưng không vợ tôi tắm rửa sạch sẽ, rồi thay xiêm y ra thành hoàng phái ngửa mặt than trời xin ông trời nếu như như ông có mắt thì hãy chứng giám cho sự trinh tiết tiết hạnh của nàng. Rồi nàng tôi gieo mình xuống sông tự tử. Nàng mất rồi. Tôi giật thột. Thật sự là nàng đã ra đi rồi … vì sao lại thế, lòng tôi đớn đau nhìn xuống dòng nước lặng. Tôi không nghĩ nàng lại làm quyết liệt tới như thế. Tôi đâm ra oán giận mình đã quá mê muội nếu như nàng không trong sạch thì sao lại phản ứng mạnh tới như thế. Tính ghen tuông đã làm tôi gián tiếp dẫn tới cái chết của Vũ nương. Người con gái đáng thương ấy, tôi thương nàng nhưng lại làm nàng tổn thương tới mất cả tính mệnh chỉ vì nàng muốn minh chứng cho lời giảng giải của nàng với tôi là sự thực.

Đêm tới, trong ngôi nhà lạnh lẽo. Tôi nằm mãi không ngủ được con trai thì kêu khóc đòi mẹ, tôi dỗ mãi nó mới nằm im được một lúc. Tôi cũng không ngủ được nên dậy thắp ngọn đèn lên cho sáng sủa. Khi nhìn thấy bóng của tôi trên vách tường thằng bé Đản con trai tôi mừng rỡ khoe tôi “cha con đó”. Câu nói của nó làm tôi giật thột thức tỉnh, hóa ra tôi đã nghi oan cho vợ đẩy nàng tới cái chết thê lương. Hình ảnh kí ức tái tạo lại vô cùng đau thương. Mọi thứ diễn ra quá nhanh, tôi cư xử quá lạnh lùng và tàn nhẫn với Vũ nương. Nàng chỉ mong tôi tin nàng. Thế nhưng tôi đã không làm được điều đó. Giờ tôi có ăn năn , đau buồn tới đâu cũng không thể làm nàng quay về với gia đình này nữa. Con tôi đã mất mẹ tại vì người cha vô tâm của nó…

sắp nhà tôi có một người làm nghề đánh cá tên Phan Lang một lần ông ấy nằm ngủ mơ thấy một cô gái xin tha mạng, khi tỉnh dậy nhặt được một con rùa rất to nên ông ấy nhớ tới giấc mơ bèn thả con rùa về biển. Một hôm người này đi biển bị lật thuyền được một cô gái cứu giúp, hỏi ra mới biết cô gái này chính là vợ tôi. Vợ tôi vì oan khúc mà tìm tới cái chết làm lay động thủy cung nên được cứu vớt. Nàng có nhờ Phan Lang nhắn với tôi rằng: Chàng hãy lập đàn tẩy oan cho thiếp, thiếp sẽ hiện về. Ban đầu tôi bán tín bán nghi không tin hết lời người đàn ông này nói nhưng khi nhận được chiếc hoa vàng tôi đã tin. Đây thật sự là vật dụng của Vũ nương.

Tôi bèn theo lời Phan lập một dàn tẩy oan trên bến sông.Vũ nương hiện lên thật nhưng lúc ẩn lúc hiện.Tôi vội gọi nhưng nàng vẫn ở giữa dòng sông mà nói với vào:

-Thiếp cảm ơn, ơn đức của Linh Phi đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng thiếp chẳng về lại được nhân gian nữa.

Trong phút chốt cảnh tượng tan biến. Tôi gục đầu thổn thức. Một sự ăn năn gớm ghê vào tâm tình tôi. Chỉ vì một cơn ghen mù quáng mà tôi đã làm cho vợ chồng, mẹ con phải li biệt mãi mãi. sai phép của tôi không thể nào cứu chữa được nữa. Tôi mong mọi người hãy nhìn vào tôi mà rút ra bài học cho chính bản thân mình, rằng đã kết nghĩa trăm năm, muối mặn tình nồng thì vợ chồng hãy thương yêu tin tưởng lẫn nhau có tương tự hạnh phúc mới vững bền mãi mãi được.

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 10

Tôi tên là Trương Sinh, con một nhà hào phú giàu có ở Nam Xương. Từ nhỏ, tôi đã chẳng mặn mà gì với việc học hành nên lúc lớn cũng chỉ sống dựa vào nếp nhà. Nhiều người nói tôi trăng hoa ong bướm nhưng tôi thì không nghĩ vậy, vì từ khi lớn lên tới giờ, tôi chỉ thích có mỗi một người đó là Vũ Thị Thiết người con gái nết na và tư dung tốt đẹp. Tôi thưa với mẹ. Tính tháng ngày tốt, mẹ sửa soạn trăm lạng vàng, sang nhà Vũ Nương xin cưới nàng cho tôi.

Tuy là con nhà nghèo nhưng nàng rất “công dung ngôn hạnh”, vì vậy cuộc sống lứa đôi của chúng tôi vô cùng hạnh phúc. Nhưng cuộc sum vầy chẳng được bao lâu, triều đình bắt lính đi đánh giặc, và tôi nằm trong số người phải đi tòng quân. Lúc đó, vợ tôi còn đang mang thai đứa con đầu lòng. Ngày chia tay quyến luyến, lưu luyến đầy nước mắt. Tôi cúi đầu thương cảm nhận lời dạy bảo của mẹ già. Tôi đớn đau nghe những lời li biệt của vợ rồi lên đường ra nơi biên ải. Trong lòng vừa thương nhớ vợ con, vừa lo lắng cho mẹ già.

Ở nơi chinh chiến, tôi không nguôi nhớ về ngôi nhà đơn sơ với mẹ già và người vợ trẻ. Mãi rồi cuộc chiến cũng kết thúc, tôi được trở về quê. Vừa đặt chân tới nhà thì hay tin mẹ già đã mất, tôi đớn đau vô cùng. Cảnh nhà hẻo lánh càng thảm sầu làm sao. Tôi bế con trai tôi – nó tên Đản ra thăm mộ mẹ. Đứa con xa lạ với người cha mới gặp cứ quấy khóc hoài. Tôi quyết tâm dỗ con:

– Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi.

Đản lại thơ ngây hỏi lại tôi:

– ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói? Chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.

Tôi ngạc nhiên khi nghe con nói thế, liền gạn hỏi thêm thì thằng bé nói:

– Trước đây có một người đàn ông, đêm nào cũng tới, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.

Nghe lời con trẻ, tôi vừa đau lòng vừa tức giận. Vậy ra vợ tôi là người nữ giới hư hỏng, trong lúc chồng đi chiến trường thì ở nhà linh tinh với người đàn ông khác. vậy mà khi ở chiến trường nguy hiểm kia tôi lại không ngừng nhớ tới nàng, mong ngày mong đêm để được về sum hiệp với nàng.

Về tới nhà, cơn ghen mù quáng khiến tôi không nhịn được, tôi la um lên cho lại gan. Chẳng màng vợ hết lời thanh minh, láng giềng nồng nhiệt khuyên giải, tôi đuổi Vũ Nương đi. Biết tôi không tin vào sự thực, nàng đớn đau ôm con lần cuối cùng rồi ra khỏi nhà.

Chiều muộn hôm đó, tôi nghe tin nàng đã gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Tuy vẫn giận nhưng tôi cũng mang lưới ra để vớt xác nàng nhưng vớt mãi suốt đêm cũng chẳng thấy đâu.

Một đêm vắng vẻ, tôi ngồi ôm con bên ngọn đèn mới thắp, lòng rầu rĩ nghĩ tới Vũ Nương. Bỗng thằng bé reo lên:

– Cha Đản lại tới kia kìa!

Tôi vội hỏi đâu thì nó chỉ vào cái bóng của tôi trên vách nhà. Tôi chợt hiểu ra mọi chuyện. Nhưng mà trời ơi! Tôi đã làm gì thế này. Chính tôi đã làm thịt vợ mình. Vợ tôi đã chết oan uổng vì sự hồ đồ, đa nghi, cả ghen, ích kỉ,… của chính tôi. Tôi hối hận quá. Nhưng đã muộn mất rồi.

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 11

Tôi tên là Trương Sinh, quê ở Nam Xương. Vợ tôi là Vũ Thị Thiết, một người con gái tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp. Hai vợ chồng cùng mẹ tôi sống rất vui vẻ, hạnh phúc, hòa thuận bên nhau và đứa con đầu lòng của chúng tôi cũng sắp chào đời. Không may thay, chiến tranh xảy ra ngay khi ấy, binh lửa tao loạn của cuộc nội chiến kéo dài và tôi bị gọi đi tòng quân. Khi nhận được lệnh, tôi chia tay với mẹ và vợ trong niềm xót xa, bâng khuâng và bổi hổi. Trước khi chia tay, mẹ tôi dặn dò tỷ mỉ:

– Con đi ra nơi binh mạc như thế thì phải biết giữ mình cho tốt. Đừng vì một tí công danh, lợi lộc mà để bản thân bị thương. Con phải nhớ như thế thì mẹ mới bớt được phần lo lắng.
Tôi vâng lời mẹ dặn dò, nhận chén rượu tiễn biệt từ Vũ Nương. Nàng giãi bày với tôi:
Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong chàng đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ… Chỉ xin ngày trở về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao. Rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho thiếp băn khoăn, mẹ chồng lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa. Trông liễu rủ bãi hoang lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú. Dù tin trông mòn mỏi cũng không có lấy một cánh hồng bay bổng.

Nàng vừa dứt lời thì nước mắt tôi ứa ra. Tạm biệt mọi người trong gia đình, tôi lên đường ra trận. Tôi đi được ít hôm thì vợ tôi sinh con. Đó là một bé trai mũm mĩm, trắng trẻo và được Vũ Nương đặt tên là Đản. Chuyện vui chưa kéo dài được bao lâu thì tin dữ lại tới. Mẹ tôi vì quá nhớ và lo lắng cho tôi nơi trận mạc nên đã lâm bệnh nặng và không qua khỏi, mặc dù Vũ Nương đã hết sức thuốc thang, cúng bái.

Một năm sau, chiến tranh kết thúc, tôi trở về với quê hương. Cảnh vật chẳng thay đổi là mấy. quang cảnh vẫn vẹn nguyên như hồi tôi mới từ biệt gia đình ra đi tới nơi trận mạc mà thôi. Vừa về tới nhà thì tôi đã nghe tin là mẹ tôi mất. Tôi đớn đau và buồn bã vô cùng. Và buồn hơn khi không hiểu vì lý do gì mà bé Đản nhất quyết không nhận tôi là cha nó. Nhân thời cơ ra mộ thăm mẹ, tôi dẫn bé Đản theo. Ra tới mộ, mọi xúc cảm của tôi được đẩy lên tới đỉnh điểm, không kìm được nước mắt, tôi òa lên khóc nức nở như một đứa bé. Lúc đó, tôi quay sang gọi bé Đản. Nó tròn xoe mắt hỏi tôi:

– Ông cũng là cha tôi ư? Cha tôi trước khi chỉ nín thin thít, không nói câu nào.

Tôi phải hỏi mãi mới biết hồi tôi đi vắng có một người đàn ông đêm nào cũng tới nhà tôi. Vì tính đa nghi hay ghen nên tôi phi thẳng về nhà và ngay ngay thức thì quát mắng Vũ Nương. Tôi bỏ ngoài tai mọi lời phân trần, giảng giải của nàng cũng như những lời biện minh của bà con láng giềng. Và rồi, tôi đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà. Vũ Nương ra bến Hoàng Giang rồi gieo mình xuống đó. May thay được Linh Phi cứu xuống làm cung nữ dưới long cung. Rồi nàng gặp được Phan Lang – người cùng làng với chúng tôi, và nàng gửi Phan lang cầm về một chiếc hoa vàng, tín vật nàng gửi lại cho tôi. Trong khi ấy, ở nhà, tôi mới biết được sự thực là người đàn ông kia chỉ là cái bóng của Vũ Nương mà thôi. Tôi đớn đau và đau xót vô cùng, nhưng lúc ấy hối hận thì đã quá muộn màng. Phan Lang gặp tôi, kể lại đầu đuôi câu chuyện và trao cho tôi chiếc hoa vàng kỷ vật kia. Sáng ngày hôm sau, tôi lập đàn tẩy oan cho Vũ Nương bên bến sông. Nàng hiện về trong giây lát rồi biến mất.

Tôi chìm vào trong thất vọng và vô vọng. Chỉ vì tính đa nghi, hay ghen mà tôi đã làm mất một người vợ tốt vô ngần, tự tay phá vỡ đi cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, bình yên, hòa thuận lâu nay nay. Tôi ăn năn lắm!

Kể lại Chuyện người con gái Nam Xương – Mẫu 12

nếu như có ai hỏi rằng trong thế cục của tôi, điều gì làm tôi hối hận nhất thì tôi sẽ cúi đầu mà trả lời rằng việc tôi hối hận nhất là hiểu nhầm người vợ của tôi và khiến cô ấy phải chết. Tôi là Trương Sinh, sinh ra trong một hoàn cảnh quốc gia có chiến tranh tôi phải tòng quân đi lính như biết bao chàng trai khác. Trước khi đi lính mẹ tôi cưới cho tôi một người con gái rất xinh đẹp lại nết na. Đó là người vợ của tôi sau này. Trong khoảng thời gian chưa ra trận tôi và cô ấy đã có với nhau một mầm sống.

Tôi ở chiến trường trải qua biết bao nhiêu gian khổ, đã có biết bao nhiêu người ngã xuống. Tôi từng chứng kiến biết bao nhiêu cái chết thương tâm, chết không nhắm mắt xuôi tay. Mỗi lúc như thế nghĩ về gia đình tôi lại có động lực để vượt qua tất cả để trở về với họ. Ngày tôi trở về tôi được tin mẹ tôi đã mất vì quá thương nhớ tôi. Tôi là người con duy nhất mà mẹ tôi có, cha mất sớm mẹ nuôi bằng chính sức lực của mình không có ai viện trợ. Mẹ xót tôi nơi chiến trường, nghĩ mà tôi không kìm được nước mắt.

Dẫu sao giờ đây ông trời đã bù đắp cho tôi bằng một cậu con trai vô cùng dễ thương, một người vợ ngày đêm chung thủy đợi tôi về. Những tưởng hạnh phúc, thế nhưng đứa bé không gọi tôi là cha, nó không nhận tôi. Nó nói ba nó thường tới lúc khuya. Tôi tức giận lắm, hóa ra vợ tôi không chung thủy như tôi nghĩ. Trong cơn nóng giận tôi đã đánh cô ấy và đuổi ra khỏi nhà. Đêm tới tôi bế đứa con, bỗng nhiên nó chỉ vào cái bóng của tôi trên tường mà nói rằng đó là ba nó. Người tôi như điêu đứng, tôi hiểu ra sự tình, tôi chạy đi tìm vợ mình nhưng không thấy. Rồi nghe tin cô ấy đã tự sát, nhảy xuống sông.

Mấy ngày sau tôi nhận được lời nhắn của cô ấy, tôi hối hận vô cùng nhưng đã quá muộn. Tôi chẳng biết làm cách nào liền lập đền tẩy oan cho cô ấy trên con sông mà cô tự tử. Đó chính là câu chuyện mà cho hết thế cục này nó vẫn cứ khiếp sợ tôi, một sự khiếp sợ tội lỗi.

Đóng vai Trương Sinh kể lại thế cục mình

Trong thế cục, không có ai là chưa từng phạm phải sai phép nhưng hầu hết đều có thể sửa chữa, chỉ cần đủ quyết tâm và sự kiên trì. Nhưng cũng sẽ có sai phép dù có sử dụng cả đời để bù đắp cũng không thể cứu vớt được, chỉ còn lại sự đau buồn, xót thương, ăn năn. Câu chuyện của thế cục tôi chính là như thế. Vì sự ghen tuông mù quáng đã khiến gia đình tôi vỡ, con trai mất mẹ, còn tôi thì mất đi một người vợ hiền dịu.

Tôi là Trương Sinh. Gia đình họ Trương vốn chỉ có tôi là con trai duy nhất nên từ nhỏ tôi đã được cha mẹ vô cùng nuông chiều, “ngậm thìa vàng” mà lớn lên, cũng ỷ thế vì nhà mình giàu mà bỏ bễ học hành. tới tuổi dựng vợ gả chồng, khi ấy trong làng nổi tiếng có nàng Vũ Nương tuy nhà nghèo túng nhưng tính tình hiền dịu, nết na, xinh đẹp, được rất nhiều chàng trai theo đuổi. Vì cảm mến dung hạnh của nàng mà tôi đã nhờ mẹ đem trầu cau cùng trăm lạng vàng sang rước nàng về làm vợ. Vốn có tính đa nghi nên ngay cả khi vợ chồng chung chăn chung gối, tôi vẫn chưa thật sự tin tưởng Vũ Nương, vẫn phòng ngừa mọi chuyện. Nhưng nàng không những không làm phụ lòng tôi mà còn khéo léo trong xử thế nên gia đình chưa bao giờ bất hòa.

Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc chưa kéo dài được bao lâu, vì không có học vấn nên tôi buộc phải đi lính. Ngày tôi đi, mẹ tôi nuốt nước mắt mà dặn rằng:

– Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối. Tuy hội công danh từ xưa ít gặp nhưng trong chỗ binh cách, phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm mà để lỡ vào cạm bẫy. Quan cao tước lớn nhường để người ta. Có thư thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng về con được.

Tôi nghe lời mẹ dặn, hết sức kính cận mà quỳ rạp xuống đất. Còn Vũ Nương, nàng rót chén rượu đầy rồi dặn rằng:

– Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn răng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú ! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.

Nàng nói xong mà nước mắt đã lăn dài trên má khiến tất cả mọi người càng thêm xúc động. Vợ tôi vẫn cứ luôn hiền dịu, ân cần, chu đáo và khiến tôi bất thần như thế ! Khi ấy, tôi chỉ mong rằng, mẹ và vợ sẽ mãi khỏe và bình yên để chờ tôi trở về. Lạy mẹ thêm một lạy, tôi ra đi.

Ba năm ròng rã vào sinh ra tử, đã có lúc tưởng tuồng như cuộc chiến này liệu sẽ không có hồi kết, nhiều lúc tưởng tuồng như muốn bỏ cuộc. Nỗi nhớ gia đình cồn cào mỗi đêm khiến tôi không sao ngủ nổi, vừa giày vò nhưng cũng là một nguồn động lực to lớn khiến tôi càng thêm quyết tâm. Cuối cùng, giai đoạn gian khổ ấy cũng kết thúc. Ngày tôi được trở về, tôi cứ cứ nghĩ rằng chắc chắn sẽ hạnh phúc lắm bởi được chào đón bởi bàn tay của mẹ, cái ôm của vợ và nụ cười của đứa con trai vừa mới chào đời. Nhưng vừa trở về, tôi được nghe tin :Mẹ đã mất. đớn đau, đau xót tới tận cùng.

ngày hôm sau, tôi dẫn bé Đản – con trai tôi ra thăm mộ mẹ. Thằng bé nhất định không chịu theo, nó gào khóc om sòm. Tôi mới dỗ nó rằng:

– Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi.

Thằng bé thơ ngây nói:

– ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như

cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.

Lời thằng bé nói như sét đánh giữa trời quang, tôi giật thột, gạn hỏi. Rồi đứa nhỏ nói :

– Trước đây, thường có một người đàn ông đêm nào cũng tới, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.

Nghe thấy thế, tôi đứng như chết lặng, cả người hóa đá. Tôi cố bình tâm, tin rằng đây không phải là sự thực. Chỉ tiếc là, những lời nói phát ra từ đứa trẻ thơ ngây này khiến tôi không thể không tin. Nó như nhát dao cứa dần, cứa dần vào tim gan tôi. Phải chăng Vũ Nương kia đã làm gì có lỗi với Trương Sinh tôi, phải chăng nàng đã phản bội tôi mà thất tiết với ai rồi ? Ba năm đấu tranh trong mòn mỏi, đổi lại đây là kết quả khi tôi trở về sao? đau xót, uất ức biết nhường nào!

Không thể kiềm chế nổi xúc cảm, về tới nhà, tôi mắng vợ một trận để lại gan. Vũ Nương lúc đầu ngạc nhiên, nàng trân trân mắt nhìn tôi mà rằng:

– Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin một mực đãi đằng để cởi mối nghi ngờ. Xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.

Thế nhưng, những lời nói của nàng khi ấy tôi chẳng tin một lời nào. Tôi không nói cho nàng biết tôi nghe con trai nói dù nàng đã gạn hỏi, cũng không hề để nàng thanh minh, mặc cho sự can ngăn của gia đình, tôi đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà. Trước khi đi, nàng cực chẳng đã nói:

– Thiếp sở dĩ nương tức vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa, đâu có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.

Nói xong, nàng đứng dậy thay quần áo tắm rửa rồi ra đi. Chẳng nào ngờ đâu, ngày ngày hôm sau tôi mới biết rằng nàng lại gieo mình xuống sông để chứng tỏ lòng trung trinh của mình. Lúc nghe tin, tuy trong lòng còn giận nhưng nghĩ tới tình nghĩa vợ chồng bao nhiêu năm qua, tôi tìm cách vớt thây nàng nhưng lại chẳng thấy đâu cả. Lòng ôm mối sầu hận, tôi không thể yên giấc.

Bẵng đi một thời gian, vào một đêm khi trời đã về khuya, trong không gian im ắng chỉ còn nghe thấy tiếng sâu bọ từ xa vọng lại. Tôi thắp ngọn đèn dầu hiu hắt ngồi xuống kế bên con trai. Nhìn căn phòng mà bỗng dưng cảm thấy trống vắng, đơn chiếc, lạnh lẽo tới lạ. Chợt, bé Đản reo lên:

– A! Cha Đản lại tới rồi kìa!

Tôi giật thột nhìn quanh khắp phòng nhưng lại chẳng thấy đâu cả. Điều tôi cảm nhận được chính là luồng gió đang thốc vào và tiếng sâu bọ vọng lại ngày một rõ ràng hơn. Vốn tưởng thằng bé trêu đùa nhưng khi hỏi ra, thằng bé mới trỏ tay lên bóng của tôi trên vách tường rồi nói:

– Đây này! Tôi như chết lặng, những dòng nước ấm nóng như chỉ đợi trực trào ra

khỏi mắt. Hóa ra, vì không muốn con thiếu đi tình cha con nên chắc hẳn vợ của tôi đã nói với nó bóng trên vách là cha của nó. Mọi chuyện vỡ lở. nếu như như trước kia, khi hiểu lầm vợ mình bội bạc, tôi căm giận, phẫn uất bao nhiêu thì giờ lại hối hận bấy nhiêu. Nhưng hối hận giờ đã quá muộn rồi, tôi không thể làm gì nữa. Vợ của tôi đã ra đi mãi mãi… Nhớ về quãng thời gian trước kia, nàng chưa từng khóc khi bên tôi nhưng kể từ ngày ấy, ánh mắt cuối cùng nàng nhìn tôi đớn đau, nàng đã khóc rất nhiều…Nhưng lúc đó tôi không hiểu và cũng không muốn hiểu, vì sự ghen tuông đã diệt sạch đi lí trí trong tôi mất rồi.

tháng ngày dần trôi, tôi cứ mãi sống với nỗi ăn năn như thế. Cho tới một hôm, bỗng dưng có một người tới gặp tôi, tự xưng là Phan Lang. Nhưng điều khiến tôi băn khoăn ở chỗ, tôi không hề biết người này. Thế nhưng, người tên Phan Lang ấy lại đem tới cho tôi một tin giật gân khiến tôi không hề quan tâm tới anh ta là ai và xuất thân từ đâu nữa: vợ tôi còn sống.

Tôi không dám tin. Thế rồi, anh ta đưa chiếc xoa vàng rồi kể về câu chuyện phiêu bạt dưới thủy cung của vua Nam Hải rồi gặp vợ tôi, cùng nàng hàn ôn rồi nàng nhờ đưa cho tôi chiếc xoa này. Nghe anh ta nói, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì có thể vợ tôi còn sống, tôi càng sợ rằng hy vọng vừa được nhen nhóm lên trong mình một lần nữa bị dập tắt bởi trò đùa ác ý. Phan Lang còn dặn hãy lập một đàn tràng tẩy oan ở bến Hoàng Giang- nơi vợ tôi gieo mình xuống thì nàng sẽ trở về.

Tôi đánh liều nghe lời. Với tôi, chỉ cần nàng có thể quay trở về, tôi sẽ làm đủ mọi cách. Tôi lập đàn tràng trong ba đêm ròng rã rã vẫn chưa thấy Vũ Nương xuất hiện. Sang tới ngày thứ tư, khi hy vọng trong tôi sắp như đã cạn kiệt thì bỗng nhiên, tôi thấy một chiếc kiệu hoa rực rỡ xuất hiện giữ mặt nước mênh mông. Cả một khúc sông bỗng chói lóa, lung linh huyền ảo như ở một toàn cầu khác. Từ trong kiệu hoa, Vũ Nương bước ra, trên mình mang bộ y phục nhấp nhánh, nàng thật đẹp và rạng ngời. Thế nhưng, khi tôi chứa tiếng gọi, nàng chỉ đứng dưới dòng sông mà nói vọng vào:

– Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về nhân gian được nữa.

Nói xong, nàng vén kiệu bước vào, cả đoàn kiệu hoa cứ thoắt ẩn thoắt hiện giữa sông rồi từ từ biến mất. Mọi thứ đã kết thúc thật rồi, chẳng còn cách nào có thể cứu vãn được nữa.

Đã nhiều năm trôi qua nhưng sai phép ấy vẫn như con dao cứa dần vào lòng tôi, khiến chúng từ từ rỉ máu. Dù Trương Sinh của bây giờ có tốt hơn ngày xưa gấp vạn lần cũng không thể kéo Vũ Nương trở về bên tôi nữa. Cũng từ sai phép ấy, tôi đã rút ra được những bài học sâu sắc cho mình, tôi sẽ quyết tâm sống thật tốt, nuôi dạy bé Đản lớn khôn trưởng thành để nó sẽ không bao giờ phạm phải những sai phép không thể sửa chữa như tôi, để nàng có thể phần nào yên tâm hơn nơi cửu tuyền.

Đóng vai Trương Sinh tỏ bày về nỗi oan khúc của Vũ Nương

Phận nữ giới từ xa xưa đã phải chịu những xấu số, không đâu thoát được. Càng cực hơn khi bấy giờ thuộc chế độ phong kiến, là xã hội của những cổ tục, suy nghĩ cổ hữu – “Trọng nam khinh nữ”. Là một người chồng, người cha, tôi không thể giấu mãi chuyện này. Giờ đây bé Đản đã lớn, có đủ chín chắn để nhìn nhận vấn đề, nó cũng cần phải biết những gì đã xảy ra trong quá khứ.

Vũ Nương – cái tên nghe quá đỗi thân yêu. Đó là nơi mà tôi và mẹ bé Đản – Vũ Thị Thiết bén duyên xích thằng. Nàng xinh đẹp, hiếu thảo, tư dung tốt đẹp vô cùng. Còn tôi – Trương Sinh là một đứa con trong gia đình hào phú, muốn gì được nấy nhưng lại không lo việc chữ nghĩa, suy nghĩ không bằng người. Vừa gặp Thiết, tôi đã đem lòng thương mến, dần dần muốn cưới nàng về làm vợ. Con trai thời ấy được ba mẹ nuông vô cùng. Tư dung tốt đẹp như nàng, mẹ chồng nào mà chẳng thích nên vội mở lời xin mẹ trăm lạng vàng để rước nàng về, bà chấp nhận ngay.

Nên duyên vợ chồng, cả hai hạnh phúc lắm. Tôi nhận thức được tôi là một người ghen tuông mù quáng vì suy nghĩ nông cạn. Ở bên tôi, chắc nàng từng đã quyết tâm giữ gìn mực thước để gia đình ấm êm. Chung chăn gối chưa được bao lâu thì nước non gặp nạn, là người con của quê hương, làm sao tôi có thể ngó mặt làm ngơ. Trước khi đi, cả mẹ lẫn vợ đều chuẩn bị, dặn dò tôi rất đầy đủ. Rằng họ chỉ mong tôi an yên trở về, những thứ danh vọng ngoài kia là thứ không màng tới.

Rời xa gia đình, tôi thật lòng không muốn nhưng vì sự nước, tôi phải lên đường. Đi được một tuần thì nghe tin vợ ở nhà hạ sinh một đứa bé trai kháu khỉnh, đặt tên là Đản. Không biết vắng chồng, vợ tôi nơi ấy thế nào. Nhờ Thiết và mẹ luôn gửi thư thăm hỏi, kể tình hình nơi quê nhà nên tôi phần nào đỡ lo lắng. Không lâu sau, tôi lại nhận được tin mẹ bệnh nặng. Được biết nàng chăm lo cho mẹ tôi chu đáo lắm, nàng luôn hỏi han, yên ủi, động viên bà chờ ngày tôi về, nhưng tuổi già sức yếu, con người ta dù quyết tâm ra sao cũng không thể thay đổi lệnh trời. Mẹ tôi ra đi.

Ở nơi chiến trường đầy chết chóc ấy được nửa năm thì tôi trở về. Lúc ấy, quân giặc đã đầu hàng, trả lại sự yên bình vốn có của quốc gia. Bước chân tới cửa, vợ tôi chạy ra, như vỡ òa, nàng ôm lấy tôi. Nhìn xung quanh, chỉ có một mình nhưng nàng đã gánh vác việc nhà, dạy dỗ con cái, lo hậu sự cho mẹ tôi rất tốt. Nhiêu đó đủ để biết, người phụ nữ này đã quyết tâm biết chừng nào! Tôi ẵm con ra trước mộ mẹ, chết lặng vài giây. Đản cứ quấy khóc, tôi nói:

– Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi.

Nó bập bẹ, thơ ngây lên tiếng đáp trả:

– ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.

Tôi bất thần. Gạn hỏi con thì nó nói rằng đêm nào cũng có một người đàn ông tới chơi, Thiết đứng lên đi thì người đàn ông đó cũng đi, Thiết ngồi, người đàn ông đó cũng ngồi, tuyệt nhiên chẳng bao giờ lên tiếng hay bế Đản. Tôi nóng ran người, tỏ rõ sự tức tối, chắc chắn rằng vợ hư, không một lòng chung thủy. Về tới nhà, tôi lớn tiếng quát nạt, ra tay đánh nàng, mặc nàng van xin giảng giải, mặc láng giềng sang can ngăn. Ngày hôm đó, hẳn là ngày đầy lỗi lầm của tôi. Nàng tắm gội chay sạch rồi đi đâu không ai biết được. Tôi cũng chẳng màng ngó tới. Chỉ biết được lúc đi, Thiết mang theo một chiếc hoa vàng.

Sau đó hay tin nàng tự tử xuống sông mà chết, tuy còn giận nhưng tôi vẫn đi tìm vớt thay nàng. Tìm kiếm tìm kiếm chẳng thấy đâu cả, tôi thơ thẩn đi về.

Tối hôm ấy, hai cha con ngồi trước ngọn đền dầu, bỗng Đản chỉ tay lên tường:

– Cha Đản lại tới kia kìa!

Nhìn bóng mình trên tường, tôi biết bản thân đã phạm phải sai phép đáng chết. Vì tính đa nghi đa ghen, suy nghĩ không bằng người nên đã đẩy vợ tới quyết định tự vẫn. Hằng đêm, vì muốn con không chán ghét khi gặp lại cha, đồng thời để đỡ đơn chiếc, nàng đã đùa con rằng bóng trên tường là cha Đản – tôi. Không hiểu lòng vợ, nghi ngờ, ghen tuông lại không nghe vợ giảng giải, tôi thật là một người chồng tệ bạc.

Ít lâu sau, có kẻ cùng làng tới tìm tôi, tên hắn là Phan Lang. Ban đầu hắn trình bày sự việc gặp được Thiết dưới thủy tề nhưng tôi không tin. Làm sao chuyện hoang đường này có thể xảy ra? Sau thấy Phan lấy ra chiếc hoa vàng xưa kia, tôi đành tin và chấp nhận yêu cầu của hắn. Hắn chuyển lời rằng tôi hãy lập một đàn tẩy oan ba ngày ba đêm ở bến Hoàng Giang, Thiết sẽ trở về. Đúng thật! Từ xa xa, bóng vợ tôi đứng trên chiếc kiệu hoa, lúc ẩn lúc hiện đầy mờ ảo. Tôi gọi vọng ra, nàng vẫn đứng yên giữa dòng mà trả lời:

– Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về nhân gian được nữa.

Nói xong, tôi chẳng còn thấy được nàng. Nàng ẩn vào mây khói mà biến đi mất, để lại nỗi nhớ khôn nguôi nơi trần gian. tới tận bây giờ, khi đã già đi, tôi vẫn ray rứt mãi sự việc năm ấy. Cũng đúng! Làm sao có thể sống điềm nhiên khi chính mình là nguyên nhân làm vợ chết, làm con mồ côi mẹ. Tôi không mong ước gì hơn, chỉ mong rằng nàng nơi ấy được an yên, hạnh phúc, không lạnh lẽo như phàm trần này. Rồi tôi, tôi sẽ chịu mọi hình phạt từ người đời, từ con trai.