Top 3 mẫu So sánh ước nguyện của Thanh Hải và Viễn Phương

Văn mẫu lớp 9: So sánh ước nguyện của Thanh Hải trong Mùa xuân nho nhỏ và ước nguyện của Viễn Phương trong Viếng lăng chưng gồm dàn ý chi tiết, cùng 3 bài văn mẫu, giúp những em tham khảo để hoàn thiện bài viết của mình hay hơn.

Đứng trước thiên nhiên tươi đẹp của mùa xuân xứ Huế, Thanh Hải đã thể hiện khát vọng hiến dâng mùa xuân của mình vào mùa xuân chung quốc gia qua bài thơ Mùa Xuân nho nhỏ. Hay đó là niềm thành kính, nỗi xúc động thật tình của Viễn Phương lần đầu ra thăm lăng chưng được bộc lộ qua bài thơ Viếng lăng chưng. Vậy mời những bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây của GrabHanoi:

Dàn ý so sánh ước nguyện của Thanh Hải và Viễn Phương

I. Mở bài: giới thiệu chung về 2 tác giả và 2 tác phẩm

Ai cũng có những ước muốn của riêng mình, ước muốn ấy có thể thông thường, giản dị nhưng cũng có thể là thèm khát nguyện vọng thực hiện được khi thoát khỏi cái tôi tư nhân hóa thân, hòa nhập vào cộng đồng. Đứng trước thiên nhiên tươi đẹp của mùa xuân xứ Huế, Thanh Hải đã thể hiện khát vọng hiến dâng mùa xuân của mình vào mùa xuân chung quốc gia qua bài thơ Mùa Xuân nho nhỏ. Hay đó là niềm thành kính, nỗi xúc động thật tình của Viễn Phương lần đầu ra thăm lăng chưng được bộc lộ qua bài thơ Viếng lăng chưng.

Xem thêm: Phân tích Ý nghĩa nhan đề Mùa xuân nho nhỏ siêu hay

II. Thân bài:

– Khổ 4,5 của bài Mùa xuân nho nhỏ: màu xuân gợi cho con người niềm tha thiết và hy vọng, dù ở cái tuổi sắp đất xa trời và những ngày trên giường bệnh nhưng Thanh Hải vẫn bộc bạch tâm niệm của mình:

Ta làm con chim hót,
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca,
Một nốt trầm xao xuyến

– Điệp ngữ “ta làm” cộng với nhịp thơ dồn dập diễn tả khát vọng thôi thúc mãnh liệt trong lòng thi sĩ. Đó là khát vọng góp một phần nhỏ bé của mình để tô điểm cho mùa xuân quê hương.
Ước nguyện làm con chim để mang tiếng hát cho đời thêm rộn ràng, một cành hoa để khoe sắc trước ánh mặt trời tô điểm cho vẻ đẹp của cuộc sống, một nốt trầm góp nên bản hòa ca xao xuyến. Những ước nguyện ấy không cao xa, không ồn ào chứng tỏ thi sĩ rất khiêm tốn và mong muốn được cống hiến lặng thầm đời mình. Tiếng chim ấy, cành hòa ấy, khúc ca ấy đều là tấm lòng của thi sĩ để mừng cho ngày xuân thống nhất của quê hương, mừng cho xứ Huế yên bình, mỗi ngày càng phát triển.

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.

– Thái độ sống tích cực, lạc quan của một thi sĩ đã nhiều đóng góp cho nền thơ ca Việt Nam và cho cả cuộc kháng chiến vẫn cho sự cống hiến của mình là lặng lẽ. Dẫu qua cái tuổi xuân của thế cuộc vẫn muốn cống hiến sức lực của mình.

– Điệp ngữ “dù là” là lời nhắc nhở bản thân luôn phấn đấu để đụng độ với tuổi già, bệnh tật. Theo thi sĩ, không chỉ tuổi xanh mới có nghĩa vụ đóng góp cho xã hội mà đó là nghĩa vụ của tất cả mọi người.

– Hình ảnh thơ sắp gũi, mộc mạc, giọng thơ nhẹ nhõm, ngọt ngào như tiếng lòng thủ thỉ của chính thi sĩ. Ước nguyện đó là ước nguyện cao đẹp không cho riêng mình mà dành riêng cho thế cuộc.

Khổ thơ cuối Viếng lăng chưng

Mai về miền Nam, thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng
Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

– Mặc dù đang đứng trước hình hài người lãnh tụ nhưng Viễn Phương đã lo sợ khi mai phải lìa xa nơi này. Nỗi thôi thúc trong lòng thành kính và tình cảm vô bờ đối với người lãnh tụ đã khiến thi sĩ bật lên thành tiếng khóc “thương trào nước mắt” ý thơ mộc mạc mà thật tình.

– Điệp ngữ “muốn làm” nhấn mạnh khát vọng được hóa thân để ở kế bên Người. Viễn phương muốn làm con chim để hót chào rạng đông thức dậy trước lăng và mang tiếng hát say sưa cho chưng ngủ yên bình, muốn làm đóa hoa trước lăng khoe sắc, muốn làm cây tre canh phòng sự thiêng liêng. Hình ảnh cây tre Việt Nam được lặp lại phần đầu thêm vào phẩm chất trung hiếu để hoàn thiện tính cách của người Việt Nam: kiên cường, quật cường, trung hiếu.

– Viễn Phương sử dụng tiếng nói giản dị nhưng giàu sức gợi cảm, tinh tế và khéo léo trong lựa chọn lựa hình ảnh để phân bua tấm lòng thành kín của đứa con miền Nam khi đứng trước lăng chưng. Bài thơ truyền cho người đọc tình yêu mến vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân và thái độ sống ơn nghĩa, trung hiếu đối với quốc gia.

Xem thêm: Top 19 bài Phân tích bài Mùa xuân nho nhỏ hay nhất

* So sánh:

– Điểm giống nhau:

  • Cả hai đoạn thơ đều thể hiện ước nguyện thật tình, tha thiết được hoà nhập, cống hiến cho thế cuộc, cho quốc gia, nhân dân… Ước nguyện khiêm nhượng, bình dị muốn được góp phần dù nhỏ bé vào thế cuộc chung.
  • những thi sĩ đều sử dụng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên là biểu tượng thể hiện ước nguyện của mình.

– Khác nhau:

  • Thanh Hải viết về đề tài thiên nhiên quốc gia và khát vọng hòa nhập hiến dâng cho thế cuộc.
  • Viễn Phương viết về đề tài lãnh tụ, thể hiện niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết thành kính khi tác giả từ miền Nam vừa được phóng thích ra viếng chưng Hồ.

III. Kết bài: Dù ngày Viễn Phương ra viếng lăng chưng đã rất xa, Thanh Hải thì không còn nhìn thấy mùa xuân quê hương mình nữa. Nhưng mỗi thi sĩ đều để lại những dòng thơ ngập tràn, rét mướt về tình người, tình cảm sâu nặng với quê hương, xứ sở.

So sánh ước nguyện của Thanh Hải và Viễn Phương

Giống nhau:

  • Cả hai ước nguyện của thi sĩ đều tới từ sự thực tình, xuất phát từ trái tim và cùng muốn hoá thân thành những thứ tưởng chừng là nhỏ bé, đời thường nhưng lại rất ý nghĩa, muốn được góp phần dù nhỏ bé vào thế cuộc chung.

Khác nhau:

– Tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải:

  • Thanh Hải viết về đề tài thiên nhiên quốc gia nên ước nguyện của ông mang tính xã hội, quốc gia
  • Ước nguyện của ông là muốn cống hiến cả thế cuộc và sức lực của mình cho quốc gia.

– Tác phẩm Viếng Lăng chưng của Viễn Phương:

  • Viễn Phương viết về đề tài lãnh tụ và ước nguyện của ông dành cho riêng chưng và đó cũng như thay mặt nhân dân.
  • Ước nguyện của ông là hoá thân thành những thứ xung quanh lăng chưng để mãi bên chưng, không bao giờ rời xa.

So sánh ước nguyện của Thanh Hải và Viễn Phương – Mẫu 1

Như chúng ta đã biết có rất nhiều nhà văn, thi sĩ đã viết về ước nguyện cống hiến cho thế cuộc. Thế nhưng, có nhẽ chưa có ai viết một cách thật chân tình, thân yêu như trong khổ bốn bài thơ “Viếng lăng chưng” của thi sĩ Viễn Phương:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng chưng
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”

Và khổ bốn và năm trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của thi sĩ Thanh Hải:

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc. ”

Qua hai tác phẩm trên, ta có suy nghĩ gì về ước nguyện cống hiến của những tác giả? Ở đầu khổ thơ bốn trong bài “Viếng lăng chưng” của Viễn Phương đã mở đầu bằng: “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”.

nếu như ở khổ thơ thứ nhất nói về hình ảnh hàng tre xanh xanh thân thuộc của làng quê Việt Nam, ở khổ thơ thứ hai nói về hình ảnh mặt trời cùng dòng người đi vào lăng viếng chưng thể hiện niềm tôn kính của thi sĩ và cũng là của mọi người đối với chưng, ở khổ thơ thứ ba thì nói về tâm trạng và sự xúc động khi ở trong lăng chưng thì tới khổ thơ thứ tư này, thi sĩ đã bộc lộ rõ nét nhất về tình cảm của mình khi phải rời xa lăng chưng để trở về với những công việc của mình. Qua cụm từ “thương trào nước mắt”, tác giả nhịn nhường như khóc rất nhiều khi phải nói lời chia tay với chưng và sau đó thi sĩ đã nêu:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng chưng
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

Điệp ngữ “muốn làm” phối hợp với nghệ thuật liệt kê, những chi tiết gợi tả “con chim, đóa hoa, cây tre” với nhịp thơ dồn dập đã nói lên ước nguyện của thi sĩ Viễn Phương muốn hóa thân vào cảnh vật quanh lăng chưng. Tác giả muốn làm con chim hót ru chưng ngủ, muốn làm đóa hoa tỏa hương bát ngát, muốn làm cây tre canh phòng giấc ngủ bình yên cho Người. Kết cấu đầu, cuối tương ứng thật độc đáo và khéo léo, bài thơ mở ra hình ảnh hàng tre xanh xanh Việt Nam và kết lại bằng hình ảnh “‘cây tre trung hiếu”. nếu như hàng tre là đại diện cho dân tộc Việt Nam thì cây tre trung hiếu đại diện cho thi sĩ. Tác giả muốn làm một công dân trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, quân thù nào cũng hạ gục. Và tác giả muốn đi theo trục đường cách mệnh làm theo lời chưng. Đó cũng là ước nguyện của toàn nhân dân ta. Sang tới đoạn thơ thứ hai, khố bốn, năm trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” của thi sĩ Thanh Hải, ông đã viết:

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”

nếu như ở khổ một là bức tranh thiên nhiên của mùa xuân xứ Huế, ở khổ hai và khổ ba là mùa xuân thiên nhiên của quốc gia thì tới đây là ước nguyện cống hiến của thi sĩ:

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.”

Với những dòng thơ như tâm tình, thủ thỉ, phối hợp với điệp ngữ “ta làm” đã thể hiện được ước nguyện của thi sĩ. Dù lặp lại hai hình ảnh “con chim, cành hoa” ở khổ một để tạo kết cấu chặt chẽ trong bài thơ nhưng ở khổ một lại là hình ảnh của thiên nhiên thì ở đây được nâng lên là hai hình ảnh ẩn dụ nói lên ước nguyện của thi sĩ. nếu như con chim mang tiếng hát cho đời thêm vui, cành hoa tỏa hương sắc làm đẹp cho đời thì thi sĩ cũng nguyện đem những gì tốt đẹp nhất cho đời. Tác giả còn muốn làm “một nốt trầm xao xuyến”. “Nốt trầm” là nốt thấp trong một bản nhạc nhưng sự hiện diện của nó góp phần làm tăng bậc cao của những nốt còn lại, tạo sự luyến láy làm cho bản đại hòa tấu thêm rộn ràng, tươi vui. nếu như ở khổ đầu tác giả sử dụng đại từ “tôi” tức là chỉ mình ông cảm nhận vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên thì tới đây ông sử dụng đại từ “ta” vừa chỉ số ít, vừa chỉ số nhiều tức là không phải chỉ ước nguyện của riêng thi sĩ mà là của toàn dân Việt Nam. Sự hài hòa giữa “tôi” và “ta”, sự gắn bó giữa cái chung và cái riêng.

Và sang khổ thơ thứ năm, thi sĩ lại tiếp tục nói về ước nguyện cống hiến của mình:

“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”

Nhiều thi sĩ sử dụng nhiều định ngữ mùa xuân: mùa xuân xanh, mùa xuân chín, xuân lòng…Nhưng “mùa xuân nho nhỏ” là một hình ảnh ẩn dụ, sáng tạo độc đáo, một phát hiện mới của Thanh Hải. nếu như mùa xuân mang lại những thay đổi kì diệu cho quốc gia thì thi sĩ cũng nguyện làm mùa xuân sống đẹp, sống với tất cả sinh khí đang có để góp vào mùa xuân lớn của dân tộc, của thế cuộc chung. Từ láy gợi cảm “lặng lẽ” được đảo lên đầu câu thơ phối hợp từ “dâng” gợi cảm đã thể hiện sự lặng lẽ không phô trương, nói lên một thái độ cống hiến, một cách cống hiến rất riêng Thanh Hải. Điệp ngữ “dù là” phối hợp hai hình ảnh hoán dụ “tuổi hai mươi” và “tóc bạc” đã thể hiện được ước nguyện cống hiến của thi sĩ dù đó là tuổi xanh đầy thanh xuân hay dù cho đã luống tuổi.

Qua phần phân tích trên, ta cảm nhận ở hai thi phẩm có những nét chung về nội dung và nghệ thuật. Xét về cơ bản, cả hai tác phẩm đều thể hiện ước nguyện sống và cống hiến cao đẹp, mang lại cho đời những gì tốt đẹp nhất và đặc biệt ở hai tác giả, ta thấy những xúc cảm đó đều xuất phát từ tình cảm thật tình yêu cuộc sống, yêu quốc gia dạt dào. Còn về mặt nghệ thuật, cả hai bài thơ đều mượn những hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và giàu ý nghĩa.

Tóm lại, hai thi phẩm, hai tác giả nhưng chung một suy nghĩ, chung một ước nguyện. Những điều đó thật đáng cho chúng ta – những thế hệ sau này – trân trọng. Riêng bản thân tôi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng sẽ luôn nuôi dưỡng trong lòng mình những đức tính tốt, trui rèn đạo đức, tri thức để ngày mai có thể xây dựng quốc gia ngày càng phồn vinh, vững mạnh.

So sánh ước nguyện của Thanh Hải và Viễn Phương – Mẫu 2

Trong văn học hiện đại, có rất nhiều nhà văn, thi sĩ đã thể hiện mong muốn được cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho quốc gia thông qua những tác phẩm của mình. Trong số những tác phẩm ấy, có thể nói khổ bốn bài thơ “Viếng Lăng chưng” của Viễn Phương và khổ bốn, năm bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải đã thể hiện mong muốn ấy một cách độc đáo, sâu sắc nhất. Vậy ta có suy nghĩ gì về ước nguyện cống hiến của hai thi sĩ trong những đoạn thơ ấy?

Ở “Viếng lăng chưng, nếu như khổ một mô tả hàng tre bên lăng chưng, khổ hai mô tả mặt trời và đoàn người tới viếng lăng chưng, khổ ba mô tả cảnh chưng nằm trong giấc ngủ bình yên thì khổ bốn thể hiện ước nguyện của tác giả qua việc mô tả cảnh vật xung quanh lăng:

“Muốn làm con chim hót quanh lăng chưng
Muốn làm đóa hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. ”

Bằng việc liệt kê những hình ảnh lựa chọn lọc “con chim”, “đoá hoa”, “cây tre”, điệp ngữ “Muốn làm” và nhịp thơ nhanh, đoạn thơ đã thể hiện ước nguyện cống hiến của tác giả. Đây là những hình ảnh ẩn dụ đẹp thể hiện ước nguyện của thi sĩ muốn làm “con chim” đem lại niềm vui cho chưng, làm “đoá hoa” tô điểm cho lăng chưng và làm “cây tre” hoà nhập vào hàng tre bát ngát trước lăng chưng. Ở đây ta thấy có sự kết cấu đầu đuôi tương ứng: bài thơ mở ra bằng hình ảnh “hàng tre” và kết thúc bằng hình ảnh “cây tre trung hiếu”. “Cây tre trung hiếu” thể hiện mong muốn của tác giả được “trung với nước, hiếu với dân” như lời chưng dạy. Đây cũng là lời hứa của tác giả trước anh linh của chưng, hứa sẽ luôn giữ phẩm chất, cốt cách người Việt Nam, hứa sẽ sống như chưng và đi tiếp trục đường cách mệnh của chưng. Tác giả nói lên ước muốn của mình, hay phải chăng đã nói hộ ước muốn của tất cả chúng ta?

Còn ở bài “Mùa xuân nho nhỏ”, nếu như khổ một mô tả xúc cảm của thi sĩ về mùa xuân thiên nhiên xứ Huế, khổ hai, ba nói về xúc cảm của thi sĩ trước mùa xuân của quốc gia thì ở khổ bốn, tác giả đã nói lên ước nguyện thật tình:

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến ”

Bằng giọng thơ nhỏ nhẹ, tha thiết, những hình ảnh lựa chọn lọc “con chim”, “cành hoa”, “nốt trầm” và điệp ngữ “ta làm”, khổ thơ trên đã thể hiện ước nguyện cống hiến của Thanh Hải. thi sĩ muốn làm “con chim” để mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho mọi người, muốn làm “cành hoa” là muốn đem lại những gì đẹp nhất cho đời, muốn làm “nốt trầm” là muốn hoà nhập với thế cuộc chung, vì cuộc sống là một bản hoà ca mà mỗi người trong đó đều là một nốt nhạc phải sống trong bản hoà ca đó, không thể lỗi nhịp được. Nhưng tác giả chỉ vì mình như một nốt trầm thôi. Nốt trầm ấy tuy nhỏ bé nhưng lại góp phần quan trọng để làm bản hoà ca trở nên du dương, làm xao xuyến lòng người. Tất cả đã thể hiện rằng tác giả muốn sống đẹp, muốn cống hiến những điều tốt đẹp nhất dù là nhỏ bé, sống với tất cả sức sống của mình như con chim cho tiếng hót hay, cành hoa toả hương sắc cho đời. Ta còn thấy ở đây có một sự chuyển đổi ngôi nhân xưng từ “tôi” sang “ta”. Ở khổ một, tác giả sử dụng đại từ “tôi” để mô tả xúc cảm riêng của mình, còn ở đây ông sử dụng đại từ ta với hai nghĩa: nghĩa số ít và nghĩa số nhiều. Điều này chứng tỏ đó không chỉ là ước nguyện riêng của tác giả mà còn là ước nguyện chung của mọi người. Ước nguyện cống hiến ở trên được thể hiện rõ hơn ở khổ năm:

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.

Từ láy “nho nhỏ” và điệp ngữ “lặng lẽ” đã thể hiện sự khiêm tốn của tác giả. Động từ “dâng” đã nói lên thái độ tự nguyện, thật tình cống hiến cho quốc gia suốt thế cuộc mình. Không chỉ vậy, những hình ảnh hoán dụ “tuổi hai mươi” và “khi tóc bạc” đã nói lên rằng dù trẻ hay già thì mọi người đều có thể cống hiến cho đời: Điệp ngữ “dù là” như muốn thách thức thời gian, tuổi già và bệnh tật. Biết rằng tác giả đang nằm trên giường bệnh khi sáng tác bài thơ này và thấy được thái độ lạc quan, những khát vọng của ông; ta cảm thấy ông thật đáng quý, đáng khâm phục biết bao.

Sự cảm nhận trên đã cho ta thấy ở những đoạn thơ có một số sự tương đồng về nội dung và nghệ thuật, về nội dung, xét về mặt cơ bản, cả hai đoạn thơ đều nói về ước nguyện sống đẹp, sống cống hiến của tác giả và của tất cả mọi người. Hơn nữa, chúng đều xuất phát từ những xúc cảm thật tình nhất của những tác giả và tình yêu của họ đối với cuộc sống, quốc gia với vị lãnh tụ yêu kính. về nghệ thuật, cả hai tác giả đã sử dụng những hình ảnh mộc mạc, giản dị trong thiên nhiên và nâng chúng lên thành những khát vọng cống hiến cao đẹp. Không chỉ thế, cả hai đoạn thơ còn sử dụng những hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ mới mẻ, sáng tạo độc đáo, làm chúng trở nên thật lôi cuốn, gây nhiều xúc cảm cho người đọc.

Tuy nhiên, hai đoạn thơ cũng có sự khác nhau về nội dung và nghệ thuật, về nội dung, sự khác nhau ấy chính là cảm hứng, hoàn cảnh sáng tác bài thơ. Thanh Hải đã sáng tác “Mùa xuân nho nhỏ” lúc đang lâm bệnh, không còn sống được lâu nữa nhưng vẫn rất muốn cống hiến một thứ gì đó cho đời. Còn bài “Viếng lăng chưng” được Viễn Phương sáng tác sau khi vào Hà Nội thăm lăng chưng, thể hiện xúc cảm, tâm tư của ông sau chuyến đi ấy. Về nghệ thuật, khổ bốn, năm “Mùa xuân nho nhỏ” được viết theo thể thơ năm chữ, giọng thơ nhẹ nhõm, tha thiết, tâm tình, bộc lộ tấm chân tình của tác giả trong khi khổ bốn của “Viếng lăng chưng” được viết theo thể thơ tám chữ, giọng thơ trang nghiêm, thành kính, nhịp thơ dồn dập gây cho người đọc nhiều xúc cảm về chưng Hồ.

Với tất cả những sự giống nhau và khác nhau đó, mỗi đoạn thơ đều có những âm hưởng riêng, sở thích riêng đã đem lại cái hay, cái đặc sắc riêng của từng bài khiến cho ta vô cùng xúc động trước ước nguyện cống hiến của tác giả và lối sống đẹp đẽ, đầy trách nhiệm của họ, và cũng là lối sống của con người Việt Nam, như Tố Hữu đã từng viết:

“nếu như là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”

Là học sinh, sau khi hiểu được những đoạn thơ trên, tôi sẽ phấn đấu rèn luyện cho mình lối sống đẹp và có trách nhiệm, phấn đấu cống hiến những gì tốt đẹp nhất của mình cho quê hương, quốc gia.

So sánh ước nguyện của Thanh Hải và Viễn Phương – Mẫu 3

Chúng ta sống trong xã hội có con người và thiên nhiên ,nên chăng phải biết quý mến thiên nhiên và con người phải không bạn nhỉ? Với Thanh Hải xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời tới mùa xuân của mỗi con người trong mùa xuân lớn của quốc gia, thể hiện khát vọng được hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của thế cuộc chung và ta cũng thấy niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng hàm ơn và tự hào xen lẫn nỗi đau xót khi tác giả Viễn Phương vào lăng viếng chưng được thể hiện qua giọng điệu vừa tha thiết, vừa trang nghiêm của thi sĩ, ở cả 2 bài thơ ước nguyện không chỉ của riêng..

Không phải ngẫu nhiên mà thi sĩ Thanh Hải lựa lựa chọn mùa xuân để khởi nguồn cảm hứng. Mùa xuân của thiên nhiên, quốc gia thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hy vọng. Với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời khắc mà ông nhìn lại thế cuộc và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mệnh, một thi sĩ đã gắn bó trọn đời với quốc gia, quê hương với một khát vọng thật tình và tha thiết:

“Ta làm con chim hót,
Ta làm một cành hoa.
Ta nhập vào hoà ca,
Một nốt trầm xao xuyến”

Nhịp thơ dồn dập và điệp từ “ta làm” diễn tả rõ nét khát vọng cống hiến của thi sĩ. Đó là khát vọng sống hoà nhập vào cuộc sống của quốc gia, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé, của mình cho thế cuộc chung, cho quốc gia. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách thật tình trong những hình ảnh tự nhiên giàu sức gợi tả, gây xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Ước nguyện được làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vào vườn hoa muôn hương muôn sắc, rộn ràng tiếng chim, để đem lại hương sắc, tô điểm cho mùa xuân thêm tươi đẹp. thi sĩ nguyện cầu được làm một “nốt trầm xao xuyến” không ồn ào, không cao điệu mà chỉ lặng lẽ, lặng lẽ để “nhập” vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vui mừng đón xuân về. Được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của quốc gia. Một ước mơ nho nhỏ, chân tình, không cao siêu vĩ đại mà sắp gũi quá, khiêm tốn và đáng yêu quá! Hình ảnh nhuần nhuỵ, tự nhiên, thật tình, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái, ngọt ngào của những thanh bằng liên tục phối hợp với cách cấu tứ lặp lại tương tự đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnh thêm mong ước được sống có ích cho đời, cống hiến cho quốc gia như một lẽ tự nhiên. Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, vừa như một tiếng lòng, như một lời tâm sự nhỏ nhẹ, chân tình. Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một lẽ sống cao đẹp, không chỉ cho riêng thi sĩ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta. Đó là lẽ sống cống hiến cho đời lặng lẽ, khiếm tốn, không kể gì tới tuổi tác:

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.

Thái độ “lặng lẽ dâng cho đời” nói lên ý nguyện thật khiêm nhượng nhưng hết sức dai sức và vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong thế cuộc. Thật cảm động làm sao trước ước ao của thi sĩ dẫu đã qua tuổi xuân của thế cuộc, vẫn được làm một mùa xuân nhỏ trong cái mùa xuân lớn lao ấy. Điệp ngữ “dù là” ở đây như một lời tự khẳng định để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương quốc gia. Giọng thơ vẫn nhỏ nhẹ, chân tình nhưng mang sức khái quát lớn. Chính vì vậy, hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ.

Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của thế cuộc. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho tới khi tóc bạc là thời khắc hiện thời vẫn lặng lẽ hiến dâng cho đời và những câu thơ này là một trong những câu thơ cuối cùng. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào toàn cầu cực lạc, chuẩn bị ra đi mãi mãi.

Và “Viếng lăng chưng”, bài thơ gây một xúc cảm đặc biệt. Viễn Phương bằng một tiếng nói tinh tế, giàu xúc cảm sâu lắng đã diễn tả niềm yêu kính, sự xót thương và lòng hàm ơn vô hạn của thi sĩ đối với lãnh tụ. Từ tình cảm thành kính, ngưỡng mộ mà toàn dân tộc Việt Nam dành cho chưng thi sĩ đã truyền xúc cảm của mình tới với người đọc khi nguyện làm tiếng chim hót , làm bông hoa đẹp, làm cây tre trung hiếu và sẵn sàng làm muôn nghìn công việc tốt để kính dâng Người:

Mai về miền Nam, thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng
Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Mặc dù hiện tại thi sĩ đang đứng bên lăng Người, trong lăng Người nhưng khi nghĩ tới những ngày phải rời miền Bắc, ngày xa chưng Viễn Phương thấy lưu luyến không muốn rời. Tình cảm trong những ngày được sống bên chưng luôn luôn sâu lắng từng giây từng phút. Tác giả không thể nào ngăn được nữa những dòng nước mắt trào dâng và tha thiết.

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Câu thơ thật bình dị nhưng chứa chan tình thương ấp ủ sâu lắng tận đáy lòng làm cho mỗi chúng ta khi đọc lên cảm thấy vô cùng xúc động. Đây là một cách nói không hoa mỹ mà là một cách nói rất thật tình của người dân Nam Bộ nhưng lại lắng đọng trong lòng người không gì có thể nói và tả được. Cũng xuất phát từ tình cảm đó cho nên thi sĩ có ước nguyện thành kính và đây có thể là ước vọng chung của tất cả mọi người đã một lần hoặc chưa một lần gặp chưng.

Muốn làm con chim hót quanh lăng chưng
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Điệp ngữ “Muốn làm” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn thơ thể hiện ước nguyện muốn tự nguyện tự giác của Viễn Phương. thi sĩ muốn làm con chim hót dâng tiếng hót vui. Muốn làm bông hoa dâng hương thơm và sắc đẹp. muốn làm cây tre trung hiếu canh phòng cho lăng chưng ngày đêm. Hình ảnh cây tre lại xuất hiện ở đoạn cuối bài thơ làm nhiệm vụ khép lại bài thơ một cách khéo léo, tạo cho người đọc một ấn tượng mạnh mẽ khó phai mờ. Hình tượng tre được chuyển hóa: “Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”. Khổ thơ đầu là hàng tre, khổ thơ cuối là cây tre. tức là muốn hóa thân thành một cây tre trong hàng tre kia để luôn được ở bên chưng, bộc lộ một tình cảm quyến luyến. Đó là tấm lòng yêu mến và sự tôn kính đối với chưng Hồ. Và thật cao đẹp biết bao khi thi sĩ muốn hóa thân làm cây tre trung hiếu, trong muôn nghìn cây tre quanh lăng chưng, để được ở mãi bên chưng. Hình ảnh cây tre ở khổ thơ thứ nhất được lặp lại trong khổ thơ cuối tạo nên kết cấu đầu đuôi tương ứng, giúp hoàn thiện biểu tượng cây tre Việt Nam. nếu như ở khổ thơ thứ nhất, tre là hình ảnh tượng trưng cho phẩm chất kiên cường, quật cường; thì ở khổ thơ cuối, hình ảnh cây tre được lặp lại nhưng là để tượng trưng cho phẩm chất trung hiếu. Cây tre đã trở thành biểu tượng toàn vẹn cho phẩm chất của con người và dân tộc Việt Nam.

Bài thơ “Viếng lăng chưng” đã để lại trong lòng độc giả những xúc cảm sâu lắng và tha thiết. Bài thơ sẽ tiếp tục sống trong lòng người đọc, gợi nhắc cho những thế hệ kế tục thành tựu rực rỡ của cách mệnh cách sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của một con người vĩ đại mà giản dị- chủ toạ Hồ Chí Minh, người đã sống trọn một đời:

“Chỉ biết quên mình cho hết thảy
Như dòng sông chảy nặng phù sa”