Top 4+ mẫu Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính hay nhất

Mời quý thầy cô cùng những bạn học sinh lớp 11 cùng theo dõi bài văn mẫu phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính được GrabHanoi đăng tải trong bài viết dưới đây.

Đây là tài liệu hữu ích gồm dàn ý chi tiết kèm theo 4 bài văn mẫu phân tích bài thơ Tương tư được chúng tôi tuyển chọn lựa từ những bài văn hay nhất của học sinh trên toàn quốc. Qua tài liệu này những bạn có rất nhiều tư liệu tham khảo, củng cố tri thức trau dồi vốn từ để đạt được kết quả cao trong những bài kiểm tra, bài thi học kì 2 sắp tới. Mời những bạn theo dõi bài viết dưới đây.

Dàn ý phân tích bài thơ Tương tư

I. Mở bài: giới thiệu bài thơ Tương tư – Nguyễn bính

II. Thân bài: Phân tích bài thơ tương tư của thi sĩ Nguyễn Bính

1. 4 câu thơ đầu:

+ Nỗi tương tư của thi sĩ

+ Hình ảnh đôi trai gái mang dáng vóc mộc mạc, giản dị

+ Sự thương nhớ da diết của chàng trai, nỗi thương nhớ của một người dành cho một người

2. Tâm trạng của người tương tư:

+ Có sự trách móc nhẹ nhõm của chàng trai

+ Nhận thấy được tình cảm nồng thắm của chàng trai dành cho cô gái

+ Nỗi buồn da diết của người tương tư được thể hiện rất rõ ràng

+ Sự thay đổi cách xưng hô

+ Thể hiện nên sự độc đáo, chân thật, mộc mạc trong thơ Nguyễn Bình

III. Kết bài: nêu cảm nhận của em về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bình

Xem thêm: Top 20+ mẫu phân tích thương vợ hay nhất

Phân tích bài thơ Tương tư – Mẫu 1

Tương tư là nỗi nhớ nhau của tình yêu lứa đôi. Nhưng trong thế cuộc, tương tư lại thường là nỗi nhớ đơn phương. Người này nhớ, mà thỉnh thoảng cứ ngỡ người kia vô tình lắm, không hề biết, chẳng muốn biết rằng mình đang khổ sở vì tương tư. Thực tình, nhớ là hiện thân của yêu : một tâm hồn đang nhớ là một trái tim đang yêu ; một tâm hồn ngừng nhớ là tín hiệu chắc chắn của một trái tim đã ngừng yêu. Cho nên có kẻ nào yêu mà chẳng từng tương tư. Nguyễn Bính cũng thế ! Chàng trai chân quê này tương tư và đã trải tới tận cùng những cung bậc tương tư, nói khác đi, là đã bị mọi cung bậc của tương tư giày vò tới khổ sở.

Yêu nhau, mà xa nhau, tất sẽ phát sinh nhung nhớ. Nhớ nhung, thực chất, là khát khao được có nhau, sắp nhau. xa rời về không gian và thời gian chính là duyên cớ để tương tư. Vì vậy mà trong thực chất tình cảm, tương tư là một thèm khát, một nỗ lực vượt không gian và thắng lợi thời gian bằng ý thức. Không gian, thời gian vô cớ trở thành quân thù của những tình nhân bị xa rời. Và đây là những quân thù nghìn lần đáng ghét. Bởi trong nỗi tương tư, khoảng cách dù là ngắn cũng trở thành diệu vợi, nghìn trùng ; một khoảnh khắc cũng thành đằng đẵng, thăm thẳm. thỉnh thoảng chỉ tấc gang cũng thành vực thẳm. Thậm chí, với một tình nhân giàu dự cảm thì dầu chưa xảy ra xa rời, đã khắc khoải tương tư rồi :

– Vừa thoáng tiếng còi tàu
Lòng đã Nam đã Bắc
– Nên cả lúc sắp anh
Mà lòng em vẫn nhớ.

(Xuân Quỳnh)

Trong bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã nói lên nỗi tương tư nghìn đời của những lứa đôi. Ngay những lời mở đầu đã vẽ ra một nỗi tương tư ngập tràn cả cảnh sắc thôn làng :

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.

Chỉ vì có một chàng trai thôn Đoài đang gửi lòng say cô gái thôn Đông mà cuối cùng đã thành thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Cách nói xa xôi tạo hiệu quả không ngờ là hai miền không gian đang nhớ nhau. Điều này đâu phải vô cớ. Khi người ta tương tư, cảnh vật xung quanh cũng bị cuốn vào nỗi tương tư, không gian bao quanh cũng ngập tràn nhung nhớ. Người ta có nhìn bằng con mắt khách quan nữa đâu ! Cảnh vật nhuốm màu tương tư cả rồi. Câu thứ hai đặc Nguyễn Bính ! Ấy là giọng kể lể. Một câu thơ được viết toàn bằng số từ ! Không gian tương tư thật rõ. Câu bát có xu thế kéo dài, nó càng dài hơn bởi giọng kể lể và chất đầy những số từ thậm xưng theo lối thành ngữ. Mỗi người đứng ở một đầu câu thơ, thăm thẳm, vời vợi. Giữa họ là một khoảng không diệu vợi. Nỗi tương tư giăng mắc một nhịp cầu “chín nhớ, mười mong”, khởi lên từ đầu này và chập chờn, và mơ mòng tới đầu kia. Kế đó là một sự lí giải :

Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

So sánh mình với giời, ngông là vậy mà thấy cũng chấp nhận được. Bởi cả hai có cùng một căn bệnh. Tôi và Giời té ra là hai kẻ đồng bệnh. vậy mà chưa hết đâu, cái tôi này còn toan tính hạ thấp trong so sánh đó nữa. “Gió mưa là bệnh của giời”, thì bệnh đó là một thứ tật, một thói hư, giời giở chứng ra – một thứ bệnh nội sinh có sẵn ! Còn “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” thìa là căn bệnh mắc phải do “ngoại nhập”. Từ ngày yêu nàng, tôi mới mắc bệnh này. Coi tương tư là một thứ “bệnh”, mới kể lể được những khổ sở của cái tôi mang bệnh. Mà bệnh này đã mắc thì… phi em vô phương cứu chữa. Trong câu thơ, thấy có cái giọng chấp nhận một thực tế, một quy luật thế tất không cưỡng lại nổi. Cái tôi hiện ra vừa như một tình nhân si vừa như một nạn nhân tự nguyện rước bệnh, rước khổ sở vào thân. Có phải khi yêu, lời thực tâm nào cũng hoá khôn ngoan thế chăng ? Có phải thế là sự khôn ngoan dễ thương ?

Hình như tương tư thường khởi đầu bằng kể lể, giãi bày, và rồi chẳng mấy ai chịu ngừng lại ở đó. Sẽ còn là trách móc, hờn giận, sẽ còn là giận hờn đơn phương, khát khao đòi hỏi, cũng đơn phương. tức là bệnh tương tư sẽ mỗi ngày một thêm trầm trọng. Mà “kì” nhất là, cũng một không gian ấy thôi, nhưng khi đã kể lể nỗi khổ của mình – cho mình, thì nó bỗng dài ra vô tận, trái lại, tới khi trách móc, “kể tội đối phương” thì nó lại thu hẹp tới kiệt cùng :

Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Mở ra, “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”, tưởng chừng nghìn trùng cách trở. tới đây, té ra sự cách trở đã hoàn toàn triệt tiêu : tuy hai thôn nhưng thực ra chỉ có một làng. Quái lạ thay là tâm lí tương tư ! Khoảng cách có vậy mà khéo co giãn, biến hoá làm sao !

Nhưng xem chừng, hay nhất vẫn là sự kể lể về thời gian:

Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Ngày trước, tả mối tương tư Kim – Kiều, Nguyễn Du cũng thấy cái nghịch lí trữ tình của thời gian:

Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

Một ngày thôi mà ngỡ đã ba thu. Thế cũng đã quá ư trầm trọng ! Dẫu sao, đó vẫn là nỗi tương tư được nói bằng giọng người tường thuật, ngoài cuộc. Còn lời thơ Nguyễn Bính vẫn nguyên sự sốt ruột, khắc khoải của người trong cuộc, y như lời lẽ của người đang ngồi bóc lịch đếm từng ngày rề rà chậm chạp trôi qua một cách vô tình, thậm chí như cố tình trêu ngươi vậy ! “Ngày qua ngày lại qua ngày”, câu thơ dịp nhịp 3/3, chia thành hai vế, vế này là sự lặp lại của vế kia theo lối trùng diệp. Chữ “lại” chứa đựng một ngán ngẩm. Vừa hy vọng, vừa như thất vọng. Mỗi ngày mới tới nuôi lên một hy vọng, để tới cuối ngày, hy vọng tàn đi thành vô vọng. Tất cả gợi được nhịp vận hành lặp đi lặp lại rời rã của những ngày đợi chờ, mong mỏi mà vô vọng vẫn hoàn vô vọng.

Câu thứ hai vẽ ra một người nóng lòng chờ đợi cùng cái cây (nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính thường bộc bạch tâm trạng cùng với một cái cây nào đó. Đây thì chẳng rõ là cây gì. Chỉ biết nó cũng trĩu nặng tương tư ! Hay đó là cây tương tư ?! ). Kẻ tương tư và cái cây ấy có một mối tương giao kì lạ. Thời gian với kẻ tương tư chẳng vô hình. Nó có màu : ấy là màu vàng héo. Mỗi ngày qua đổ lại một dấu vết trên vòm lá. Cái cây khác nào một cuốn lịch thiên nhiên. Hơn thế, cái cây là nhân chứng của mối tương tư, là tri kỉ câm lặng của kẻ tương tư, là nạn nhân của bệnh tương tư hay là kẻ đồng nạn ? – nạn nhân bởi sự hững hờ của ai kia. Anh đợi em khi cây hãy còn xanh, tới nay cây đã vàng hết cả rồi, vậy mà… Đợi chờ làm cây héo úa, làm người héo hon !

Cái cây kia là hình ảnh khác của anh ! Cái cây kia chính là anh. Tả cảnh ngụ tình là thế ! Phải nói chữ “nhuộm” thật đắt. Cũng viết về sự thay đổi sắc màu trên cây cỏ, khi Thuý Kiều tiễn biệt Thúc Sinh, Nguyễn Du viết:

Người lên ngựa kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan sơn.

Chữ “nhuốm” rất động. Nói được sự biến đổi đang diễn ra, chưa hoàn thành. Nó cũng trực tiếp ! nhường nhịn như sắc màu này vốn từ cuộc chia li ở câu trên đã bước sang câu dưới, đã phổ vào cảnh vật nên mới “nhuộm”. Nó là sự lây lan từ ý thức con người xâm nhập vào cây cỏ. Còn chữ “nhuộm” của Nguyễn Bính gợi được thời gian. Bởi xem chừng nó tĩnh hơn. Quá trình diễn biến đã hoàn thành : lá xanh đã biến thành lá vàng rồi ! sắc thái kể lể đậm hơn. Thời gian đợi chờ của anh đằng đẵng, dằng dặc tới nồi đủ đổ nhuộm một cây xanh thành hẳn cây lá vàng cả rồi ! Lời thơ vì vậy mà khổ sở, khắc khoải bội phần.

Có phải tương tư là một gánh nặng đơn phương, càng nặng nề bao nhiêu, càng nghĩ “đối phương” vô tình bấy nhiêu. Vì vậy mà cung bậc tương tư cứ chuyển biến rất tự nhiên từ kể lể, thở than sang trách móc ? Mà lời trách móc thì, ôi chao, đầy một lối “quy kết” khó mà “chạy tội” được :

Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đành rằng.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi.

Vẫn cái “luận điệu” dễ ghét ấy. Kể lể nông nỗi mình thì cũng một sự xa rời kia mà hoá muôn trùng, thăm thẳm. Còn ở đây thì “phủ định sạch trơn” : không hề có xa rời – không có cách trở đò giang, không phải không có đường, mà thậm chí còn sắp lắm, chỉ có một đầu đình thôi. Tất cả chỉ do em hờ hững chứ chả hợp lí do khách quan gì ! Người đâu có người mỗi lời lại một vận vào người ta thế có “khiếp” không ! Nhưng không có luận điệu ấy thì làm sao có thể “quy chụp” người ta vô tình được ! Sao những trái tim yêu lại có thể “ranh mãnh” một cách hồn nhiên tới thế ! Vậy đó, trong nỗi tương tư, trái tim thường chứa lên những lời kết tội thật dễ thương. Và khi “người ta” đã nhân danh nỗi khổ vì tương tư, thì nghe những lời kết tội “khó chịu” tới đâu cũng đành mà “chịu thương chịu khó” thôi, tức là cũng thật dễ chịu thôi, không phải thế sao ?

Trách chưa hết đã lại hờn:

Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
Hờn mát tới điều rồi thì lại khát khao tới độ :
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê những, bướm giang hồ gặp nhau?

Và cuối cùng thì khẳng định đinh ninh:

Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Tất cả đã sẵn sàng và đang nóng lòng chờ đợi. Chỉ còn em nữa thôi ! Thôn Đoài đã hẳn là nhớ thôn Đông, điều ấy không còn nghi ngờ tranh luận nữa rồi. Vậy thì, cau thôn Đoài còn biết nhớ giầu không thôn nào nữa đây. Câu thơ chứa trong nó một lô gích thật nguy hiểm!

Vậy là, trong thẳm sâu tâm lí, tương tư chính là thèm khát hạnh phúc lứa đôi, thèm khát thành đôi thành lứa. thèm khát ấy tràn ra trong giọng điệu khi kể lể phân trần, khi giận hờn trách móc. thèm khát ấy còn ký thác vào những cặp đôi giấu mình suốt dọc bài thơ. Ban đầu những đồi ấy còn xa xôi, càng về sau càng xích lại sắp. Lần đầu, 1990, khi viết cho sách Để dạy tốt Văn 11 dành cho thầy giáo, tôi mới chỉ trông thấy một nửa số cặp ấy. Giờ thống kê kĩ hơn, mới thấy nhiều cặp đôi hơn ẩn náu khắp bài thơ :

Thôn Đoài – Thôn Đông
Một người – Một người
Bên ấy – Bên này
Bến – Đò
Hoa Khuê những – Bướm giang hồ
Nhà anh – Nhà em

Và cuối cùng là :

Trầu – Cau
Kết như thế thật khéo

Vòng vo, xa sắp, cuối cùng vẫn cứ tụ lại ở điều cần nhất, khắc khoải nhất : ấy là trầu – cau! Mà trầu cau là chuyện nhân duyên. Điểm truyền thống rất vượt bậc ở Nguyễn Bính là quan niệm luyến ái. Là một thi sĩ mới, nhưng Nguyễn Bính không có cái chủ trương yêu hiện đại với cái tình sắp gũi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây lát, cái tình ngoài thiên thu như điệu sống thời thượng bấy giờ. những thi sĩ hiện đại chỉ quan tâm tới tình, ít quan tâm tới duyên. Nguyễn Bính quả là chân quê khi coi trọng nhân duyên. Yêu đương với chàng thi sĩ này dứt khoát phải gắn liền với chuyện trăm năm, với hôn nhân. tức là với cau – trầu. Thực ra, những cặp hình ảnh kia vẫn chưa thành đôi hẳn, mà mới chỉ ở dạng tiềm năng, vẫn còn để ngỏ và chờ đợi. Vâng, đợi chờ một vị “phúc tinh” duy nhất là Em. Em tới, trầu cau sẽ thắm lại và tất cả những cặp còn hờ kia sẽ kết thành đôi. Bệnh tương tư sẽ được cứu chữa ! Nỗi khổ sở sẽ hết giày vò ! Vân vân và vân vân.

Nhưng em biết không, khi tất cả những điều kia đã thành, thì cũng là lúc nỗi tương tư khởi đầu… bị hoá giải.

Phân tích bài thơ Tương tư – Mẫu 2

Nguyễn Bính là thi sĩ nổi tiếng của phong trào Thơ mới trước cách mệnh tháng Tám. Giữa những giọng điệu mới lạ, thơ Nguyễn Bính vẫn giữ được âm hưởng sắp gũi với ca dao dân ca, giản dị hồn nhiên mà ngọt ngào, thắm thiết. Tương tư in trong tập nhỡ bước sang ngang, xuất bản năm 1940 tại Hà Nội. Tập thơ này đã mang lại tiếng vang cho tác giả và dấy lên trong đông đảo người đọc một phong trào thuộc thơ, yêu thơ Nguyễn Bính. Bài thơ Tương tư nói lên tâm trạng khắc khoải mong đợi của một chàng trai đang yêu với tình yêu đơn phương không được đáp đền. Mối tương tư ấy được đặt vào quang cảnh nông thôn với dáng dấp một mối tình chất phác như trong ca dao và mang hương vị đồng quê mộc mạc.

Tâm lí của những kẻ đang yêu là luôn muốn được sắp gũi bên nhau. Bởi vậy, một ngày không gặp dài bằng ba thu. những người đang yêu nhớ nhau mà không gặp được nhau thì sinh ra tương tư. Thường là một người thương nhớ một người mà không được đền đáp lại, trường hợp này trong văn học mới gọi là tương tư. Lịch sử tình yêu xưa nay đã ghi nhận bao trái tim Trương Chi tan nát bởi mối hận tình. Chàng trai trong bài thơ này cũng tương tư nhưng có phần nhẹ nhõm hơn bởi tình yêu chưa đặt được cơ sở rẽ ròi.

Bốn câu thơ đầu phân trần nỗi nhớ mong khắc khoải của kẻ đang yêu. Chàng trai không giấu là mình tương tư:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Mối tương tư ấy được thể hiện bằng những phương thức thân thuộc trong ca dao xưa, ở đây, lối hoán dụ nghệ thuật, thủ pháp nhân hóa và thành ngữ dân gian phối hợp với nhau hài hòa, tự nhiên: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, rồi bệnh của giời, bệnh của tôi. nhường nhịn như đất trời cũng chia sẻ nhớ mong, dự phần tương tư với con người.

Tôi yêu nàng, tôi tương tư, nào có khác chi trời lúc gió lúc mưa. Tâm trạng tương tư của chàng trai cũng tự nhiên như quy luật của trời đất vậy.

“Cái tôi” trong thơ Nguyễn Bính xuất hiện cùng với những “cái tôi” khác trong Thơ mới lúc bấy giờ; có điều nó mang màu sắc độc đáo bởi nó thiết tha, thực tâm, sắp gũi với thế cuộc bình dị của người dân quê. Nó có thôn Đông, thôn Đoài, có chín nhớ mười mong, có trầu, có cau. Tưởng như một đôi trai gái đồng quê mới bén duyên nhau bên hàng rào dâm bụt, bên giậu mùng tơi, vừa rõ ràng mà vừa mơ hồ. Nhân vật tôi thì đã rõ, còn nhân vật nàng thì vẫn thấp thoáng, vu vơ.

nếu như ở khổ thơ đầu, thi sĩ nói thật là mình đang tương tư thì tới ba khổ thơ sau, thi sĩ trách người mình yêu sao quá hững hờ:

Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đành rằng.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê những, bướm giang hồ gặp nhau?

Vậy là chàng trai đang nhớ thật, đang tương tự thật, nhưng khổ tâm ở chỗ thương nhớ có đi mà không có lại. m điệu thơ lục bát uyển chuyển, mượt mà rất hợp với cách thể hiện dung dị: nào là hai bên chung lại một làng, bên ấy, bên này; nào là Cách nhau có một đầu đình; Có xa xôi mấy mà tình xa xôi. Trách móc rồi tự bộc bạch là mình Tương tư thức mấy đêm rồi và ước mong: Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê những, bướm giang hồ gặp nhau? Trách, hỏi liên tục, dồn dập mà người ta vẫn hững hờ, xa xôi. Ở đời có những tình yêu như thế bởi đối tượng mình yêu tới tương tư kia lại mơ hồ, vô định. Trách và hỏi đều rơi vào khoảng trống khiến cho nỗi tương tư càng trở nên xót xa, vô vọng.

Vẫn là bên ấy, bên này cách biệt. Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nay đã thành cây lá vàng. Thời gian cứ lạnh lùng trôi mà bên ấy vẫn bằn bặt bóng chim tăm cá. Hỏi làm sao bên này chẳng chờ đợi tới hao mòn, tàn úa? Mơ làm chi tới chuyện bao nhiêu ngói bấy nhiêu tình hay chuyện tam tứ núi, ngũ lục sông?

Thế là đã rõ: Tất cả đều vu vơ, chỉ có một điều rất thật là nỗi buồn da diết của chàng trai đang tương tư. Yêu người mà chẳng được người yêu, nhớ mong mà chẳng gặp. Một mối tình như thế sẽ kết thúc ra sao? Chàng trai trở lại với ước mơ thầm kín về một cuộc hôn nhân tốt đẹp cùng nỗi băn khoăn, khắc khoải của lòng mình:

Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

tới lúc này thì không cần vòng vo, ẩn giấu chi nữa, chàng trai không còn xưng tôi mà mạnh dạn xưng là anh và gọi nàng bằng em. Cũng chẳng cẩn xa xôi xa xôi: Bao giờ bến mới gặp đò hay Tương tư thức mấy đêm rồi mà nói thẳng tới chuyện hôn nhân:

Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thử hình dung cau ấy, trầu này mà kết thành một mâm xinh đẹp thì thật tà đúng nghi lễ cưới xin. Nhưng trớ trêu làm sao: trầu thì ở nhà em, cau lại ở nhà anh. Em ở thôn Đông, anh ở thôn Đoài: Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông. Vậy: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ? tương tự là tương tư chưa đi quá nỗi nhớ và nỗi nhớ vẫn chỉ là một bên, một chiều. Tuy có nhích lên một tí cho thân tình hơn trong cách xưng hô anh và em, nhưng rồi lại quay về nơi ẩn náu cũ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, tức là chẳng tiến lên được một bước nào. Mon men tới chuyện trầu cau nhưng vẫn không thoát khỏi nỗi buồn bởi nhớ nhung người ta mà chẳng được người ta đền đáp lại. Cho nên đành kết thúc nỗi sầu bằng một nghi vấn tu từ: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ? “Cái tôi” hiện đại bộc lộ một cách tự nhiên dưới phương thức thân thuộc của ca dao xưa: thôn Đoài, thôn Đông… và nhờ đó mà nỗi đau nhường nhịn như vợi bớt. Cho nên nỗi tương tư cũng mới chỉ tới mức chín nhớ mười mong hoặc thức mấy đêm rồi, kể cả sự vô vọng nhường nhịn như kéo dài dằng dặc trong không gian và thời gian kia cũng chỉ là chuyện bến chưa gặp đò, hoa chưa gặp bướm mà thôi.

Bài thơ là một mảnh hồn của thi sĩ, là “cái tôi”mang đậm phong cách Nguyễn Bính: giản dị, hồn nhiên, dân dã mà không kém phần thơ mộng, lãng mạn. thi sĩ nói chuyện tương tư, kì thực là nói tới thèm khát tình yêu và hạnh phúc. từ đó khẳng định “cái tôi tư nhân” với quyền được sống đúng nghĩa của nó. Tương tư là một trong nhiều dẫn chứng chứng minh cho nhận xét tinh tế của Tô Hoài: Nguyễn Bính là thi sĩ của tình quê, chân quê, hồn quê.

Phân tích bài thơ Tương tư – Mẫu 3

Tác giả Nguyễn Bính là một trong những thi sĩ đi tiên phong và tiêu biểu cho phong trào thơ mới. Tuy nhiên khác với những thi sĩ cùng thời chịu tác động của thơ ca lãng mạn Pháp thì thơ của Nguyễn Bính lại thường thắm thiết truyền thống dân tộc, văn hóa dân gian, gắn bó với sự bình dị, mộc mạc của đồng quê. Bài thơ “Tương tư” của ông nằm trong tập thơ “nhỡ bước sang ngang” là một bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thơ của ông.

Nhan đề bài thơ là “Tương tư” ám chỉ một trạng thái của con người, tương tư tức là nhớ nhung, nhưng lại không đơn thuần là nhớ nhung mà còn chứa đựng nhiều cung bậc xúc cảm khác nhau nữa. Sự tương tư thường khởi đầu với những con người đang yêu, và trong bài thơ này, nhân vật trữ tình tương tư là một chàng trai quê chân thật, chất phác. Diễn biến trong tâm trạng của chàng trai chính là mạch xúc cảm của bài thơ, trong bốn câu thơ đầu ta cảm nhận được nỗi nhớ mong khắc khoải của kẻ đang yêu:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông…
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Nỗi nhớ ấy được tác giả thể hiện bằng những phương thức thân thuộc của ca dao xưa, có thể thấy hình ảnh hoán dụ “thôn Đoài” và “thôn Đông” chính là con người, và chính là chàng trai của thôn Đoài đang nhớ tới người mình yêu ở thôn Đông. Rồi lại đong đếm cụ thể nỗi nhớ mong ấy bằng thành ngữ dân gian “chín nhớ mười mong”. Có thể thấy nỗi nhớ ấy đã quá đong đầy, ngập tràn. Hình ảnh ví von đầy hí hước “nắng mưa” là bệnh của trời đó là lấy cái quy luật của tự nhiên, của trời đất để thể hiện cho sự tương tư trong tình yêu cũng là một lẽ tự nhiên như thế. Tưởng như đó là một đôi trai gái đã bén duyên nhau, nhưng thực ra lại vừa rõ ràng vừa mơ hồ, tình cảm của chàng trai thì đã rõ, còn cô gái thì vẫn thấp thoáng, vu vơ. Bởi vậy mà trong ba khổ thơ sau, lời hờn trách của chàng trai được bộc lộ ra, trách sao người mình yêu quá hững hờ:

“Hai thôn chung lại một làng…
Hoa khuê những, bướm giang hồ gặp nhau?”

Nỗi nhớ tương tư của chàng trai đang dần rơi vào nỗi khổ tâm, bởi có thương đi mà chẳng có thương lại. Sự trách móc nhẹ nhõm sao sắp nhau chỉ cách nhau có “một đầu đình” mà bên ấy lại chẳng sang bên này, để cho bên này mong đợi mòn mỏi. Trách móc rồi lại tự bộc bạch rằng vì tương tư về người mình yêu mà đã thức trắng bao đêm, chỉ mong ước được gặp người mình yêu, thế nhưng càng nhớ, càng trách, càng hỏi thì người ta vẫn cứ hững hờ, xa xôi. Tình yêu như thế ở đời không phải ít, một bên thì yêu tới si tình, tương tư tới khổ tâm còn một bên lại mơ hồ, vô định.

Vậy nên có trách móc hay tương tư cũng đều rơi vào khoảng không, không ai cảm thấu, càng khiến cho nỗi tương tư thêm xót xa, chua chát. Sự cách biệt giữa bên ấy bên này ngày càng xa xôi, thời gian đã dài đằng đẵng “ngày lại qua ngày” tới nỗi la xanh nhuộm chuyển thành lá vàng, thế nhưng thời gian trôi lạnh lùng như chính sự lạnh lùng của bên ấy. Hỏi cứ tương tự làm sao bên này lại chẳng chờ đợi tới héo mòn, khô úa.

tương tự cho tới những khổ thơ này ta đã rõ: tất cả đều là từ một phía, chỉ là nỗi tương tư thực tâm của chàng trai không được đáp lại. Yêu người nhưng chẳng được người yêu lai, nhớ mong nhưng chẳng được gặp gỡ, bởi người ta cũng chẳng muốn gặp mình, chàng trai lại đành quay lại với chính mình, trở lại với niềm mong ước thầm kín của mình về một mối nhân duyên tốt đẹp:

“Nhà em có một giàn giầu…
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Chàng trai đã mạnh dạn xưng “anh” và gọi người mình yêu là “em”, chẳng cần xa xôi, vòng vo xa xôi nữa mà đi thẳng tới vấn đề muốn được kết tóc se duyên, muốn được ở kế bên người mình yêu thương. Thế nhưng thật trớ trêu thay chàng trai vẫn không thoát khỏi được nỗi nhớ mong chẳng được đền đáp, vẫn là nghi vấn không ai hồi đáp.

Qua bài thơ “Tương tư” chúng ta thấy được một mảnh hồn thơ của Nguyễn Bính trong đó, đó chính là cái giản dị, hồn nhiên mà dân giã, không kém phần thơ mộng, lãng mạn. Chỉ là nói chuyện tương tư nhưng sâu thẳm là thi sĩ đang nhắc tới khát khao tình yêu và hạnh phúc.

Phân tích bài thơ Tương tư – Mẫu 4

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã từng nhận xét Nguyễn Bính rằng:” người thân quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường”. Đúng vậy, con người ấy sống trong từ câu thơ, từng nỗi nhớ da diết. Nỗi nhớ ấy thể hiện rõ nhất trong bài thơ Tương Tư trích từ tập nhỡ bước Sang Ngang- một tập thơ tiêu biểu của ông trước cách mệnh.

Ai trong chúng ta đã một lần ” tương tư” sầu nhớ chắc hẳn sẽ thấu hiểu xúc cảm ấy. Tương tư là thương, là nhớ, là bổi hổi khi nghĩ về hình bóng yêu thương. Nó là phức hợp xúc cảm, dậy lên như từng đợt sóng trong lòng:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười thương một người
Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Mở đầu khổ thơ là nỗi nhớ nhưng là nỗi nhớ gián tiếp qua không gian. Đó là “thôn Đoài” nhớ “thôn Đông”, nỗi tương tư giăng mắc khắp không gian bởi lối hoán dụ thân thuộc trong ca dao xưa. Kín đáo mà không kém phần tâm tình tha thiết và sâu sắc hơn nữa tác giả lấy chuyện nắng chuyện mưa, mượn “căn bệnh” vốn dĩ của trời để trải lòng mình. Tác giả coi “tương tư” là một căn bệnh đã tiềm tàng trong chính con người mình, cũng rất đỗi thông thường như bao chuyện khác, giống như quy luật của thiên nhiên tạo hóa vậy. Bốn câu thơ ấy mở ra nỗi nhớ khiến người đọc thích thú tò mò về mối tương tư của anh chàng thôn Đoài và cô nàng thôn Đông ngày ấy

tới những câu thơ tiếp theo, ta như nghe thấy lời trách móc nhẹ nhõm và rất kín đáo thôi. Trách cô gái hững hờ, trách cô gái kia sao lại vờ như không biết gì về nỗi lòng ta:

Hai thôn chung lại một làng
………
Hoa khuê những bướm giang hồ gặp nhau?

Nhịp thơ nhanh, nghi vấn dồn dập của nhân vật trữ tình hỏi người thương của mình. Vì sao nàng chẳng sang? Hai thôn ấy chung một làng mà sao nghe cách xa tới vậy, nếu như mà nhớ người ta thì phải tìm đường mà sang thăm người ta chứ đằng này lại còn trách người ta không sang với mình. Cũng không biết được rằng có phải cô gái không sang không hay là tại vì nỗi tương tư kia khiến cho người tương tư thấy thời gian quá dài, và không gian thật sắp mà trở nên xa xôi quá. Một khi con người ta tương tư, cũng hay nghĩ rằng nửa kia không quan tâm, vô tâm vô tình lắm. Rồi cứ thế ” ngày qua ngày lại qua ngày” điệp từ ngày lặp lại hai lần trong một câu thơ phối hợp với hai từ “qua, lại” khiến ta cảm thấy thời gian chờ đợi đang dần trôi đi thật chậm và thật đều, dài tựa ba thu. Thời gian làm cảnh vật trở nên thiếu sức sống, lá xanh cũng đã bị thời gian nhuộm vàng mà người thương vẫn không sang thăm. nghi vấn chứa lên vừa thương nhớ vừa có một tí trách móc nửa kia của mình nhưng nó vang lên mãi không tìm thấy lời đáp. Hình ảnh bến đò trong những câu thơ tình lại hiện lên trong tương tư của Nguyễn Bính, đó là ước muốn được ở bên nhau, gắn bó khăng khít.

Càng về cuối, những câu thơ vang lên như một ước nguyện với một tình yêu viên mãn vững bền và hạnh phúc:

Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Hình ảnh trầu cau thể hiện ước nguyện được ở bên nhau của thi sĩ với người mình thầm thương trộm nhớ. Trầu cau từ xưa là thứ không thể thiếu trong tập tục cưới hỏi và nó là hình tượng thể hiện mối tình trăm năm hạnh phúc. Giàn giầu như đang chờ đợi hàng cau tới để têm thành miếng trầu kết duyên vợ chồng trăm năm. Từ nỗi tương tư da diết của thi sĩ đã biến thành mong muốn được nên duyên một đời. Miếng trầu là đầu câu chuyện, miếng trầu như gợi ta nhớ tới sự tích trầu cau hay truyện cổ tích Tấm Cám xưa. Nét mộc mạc giản dị trong từng miếng trầu ấy, thắm thiết tình quê. Câu thơ “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” một lần nữa vang lên tao hiệu ứng đầu đuôi tương ứng, tiếng yêu như da diết khôn nguôi cho tới cuối bài. tương tự mở đầu bằng nỗi nhớ thì cuối cùng thi sĩ cũng kết thúc bằng một nỗi nhớ. Trách móc hờn giận mà tràn đầy ý tình, nhẹ nhõm và sâu lắng.

Tương Tư của Nguyễn Bính là một trong những bài thơ góp phần tạo nên tên tuổi của ông và nó làm giàu cho phong trào thơ mới nói riêng và nên thơ ca Việt Nam nói chung. Đọc bài thơ ta biết, nỗi nhớ ấy sẽ còn vọng mãi qua bao thời đại thi ca.