Phân tích bức tranh thiên nhiên Đây thôn Vĩ Dạ (9 Mẫu + Dàn ý)

Phân tích bức tranh thiên nhiên Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử tổng hợp 9 bài văn mẫu siêu hay kèm theo gợi ý cách viết chi tiết nhất. Với 9 bài văn phân tích bức tranh thiên nhiên Đây thôn Vĩ Dạ mà GrabHanoi giới thiệu sẽ giúp những bạn tự tin không phải lo nghĩ quá nhiều về việc làm sao để viết được bài văn hay, ấn tượng nhất.

Bức tranh thiên nhiên trong Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh toàn bích, nó ẩn chứa trong đó tất cả tình yêu, niềm say mê cuộc sống của Hàn Mặc Tử. Dẫu bao nhiêu năm trôi qua, chắc chắn bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ vẫn mãi sống trong lòng những người yêu thơ, yêu cái đẹp. Để hiểu rõ hơn về bài thơ này, mời những bạn cùng theo dõi 9 bài văn mẫu dưới đây của GrabHanoi nhé.

Dàn ý bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ

Dàn ý số 1

I. Mở bài:

Hàn Mặc Tử là thi sĩ nổi tiếng của Việt Nam, ông có rất nhiều tác phẩm hay, nổi tiếng trong đó bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ như thế. Toàn bộ quang cảnh thiên nhiên, không gian thôn vĩ hiện lên khá phong phú và hấp dẫn.

II. Thân Bài:

+ Bức tranh thiên nhiên hiện lên trong bài Đây Thôn Vĩ Dạ hiện lên khá sâu sắc, chi tiết và mang những cung bậc, xúc cảm nhẹ nhõm sâu lắng của nhân vật trữ tình.

+ Bài thơ đã mang tới cho người đọc nhiều xúc cảm sâu sắc, mở đầu bài thơ là những thắc mắc mang những lời trách móc nhẹ nhõm của cô gái.

+ Bức tranh thiên nhiên hiện lên rõ nét qua đoạn thơ đầu, những ánh nắng của vẻ đẹp thiên nhiên, màu sắc tươi tỉnh cùng với những sắc thái nhẹ nhõm, sâu lắng của xúc cảm, tình cảm.

+ Buổi sáng của nắng sớm đã mang những cung bậc nhẹ nhõm, xúc cảm tươi và nắng mai nở rộ trong quang cảnh của thiên nhiên, hành câu, hàng trầu, đây là biểu tượng để nói về quang cảnh của thiên nhiên, đất trời, nhẹ nhõm và sâu lắng.

+ Thấy quang cảnh thiên nhiên, nhẹ nhõm, bức tranh thiên nhiên đẹp mộng mơ, với cảnh thiên nhiên của quê hương, của vườn cây, hoa lá.

+ So với quang cảnh đó, quang cảnh thiên nhiên ở nơi thôn vĩ tươi tỉnh, hòa với quang cảnh thiên nhiên, nhẹ nhõm, cùng với hình ảnh con người cùng với khuôn mặt phúc hậu, vuông chữ điền, duyên dáng…

+ Ngay trong khổ thơ đầu tác giả đã đem tới cho người đọc một bức tranh thiên nhiên rộng lớn, ở đó có con người, cảnh vật thiên nhiên, nhẹ nhõm, sâu lắng qua hình ảnh thầm kín, chi tiết sắp gũi, thể hiện qua những quang cảnh của quốc gia, của nơi thôn vĩ.

+ Cảnh vật và con người nơi đây nhẹ nhõm, quang cảnh thiên nhiên đều gợi hình, gợi nhiều xúc cảm và tạo nên những khắc khoải trong tâm hồn.

+ Cảnh vật thiên nhiên nhẹ nhõm, sâu lắng nhẹ nhõm trong tâm hồn con người.

III. Kết Luận:

+ Bức tranh thiên nhiên hiện lên nhẹ nhõm, tinh tế mang nhiều xúc cảm sâu lắng, cùng với quang cảnh tươi tỉnh, mang nhiều sắc thái xúc cảm riêng, mang những trị giá tinh tế, cùng với không gian thiên nhiên nhẹ nhõm, mang nhiều màu sắc.

Xem thêm: Top 20+ mẫu phân tích bài thơ thương vợ của tú xương chọn lọc hay nhất

Dàn ý số 2

1. Mở bài

Giới thiệu về bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

2. Thân bài

* Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ tươi sáng, tràn đầy sức sống:

– Khu vườn dưới ánh nắng mới xanh mướt, căng tràn sức sống:

+ Ánh nắng chiếu lên hàng cau thẳng tắp

+ Màu xanh “như ngọc” của khu vườn làm cho khu vườn gợi vẻ tươi tốt, mượt mà.

+ “lá trúc chen ngang mặt chữ điền”: sự hài hòa giữa cảnh và người

* Bức tranh thiên nhiên trong tâm tưởng thi sĩ nhuốm màu tâm trạng và tự ti chia lìa:

– Mây và gió vốn chung đường nhưng nay lại chia lìa đôi ngả “Gió theo lối phong vân đường mây”.

– Hoa bắp ven sông lay nhẹ rồi rơi rụng xuống mặt nước gợi liên tưởng tới sự nổi trôi, cập kênh của đời người

--> Thiên nhiên vẫn đẹp nhưng lại chứa đựng nỗi buồn mênh mang, sâu thẳm.

– Hình ảnh “thuyền”, “sông trăng” và nỗi trằn trọc “có chở trăng về kịp tối nay” đã thể hiện sự thấp thỏm, xót xa cùng sợ hãi chia li của thi sĩ.

– Trong khổ cuối bức tranh thiên nhiên đã trở nên mờ ảo, huyền diệu hơn:

+ Màu trắng của sương bao trùm toàn bộ không gian khiến điểm nhìn trở nên mờ ảo

+ Sự mờ ảo của không gian khiến tác giả cảm thấy mình lạc lõng, chới với, không có lợi thế

+ thắc mắc tu từ cuối bài thơ thể hiện tâm trạng trằn trọc, day dứt của con người khát khao yêu thương, yêu tha thiết sự sống nhưng lại bị ngăn cách bởi nghịch cảnh

=> Bức tranh thiên nhiên của xứ Huế có sự chuyển biến qua ba khổ thơ theo hướng hư vô, mờ ảo dần

3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề: “Đây thôn Vỹ Dạ” là một bức tranh về xứ Huế vừa tươi đẹp, vừa mộng mơ, vừa huyền ảo khiến người đọc có cảm giác như đang lạc vào chốn bồng lai tiên giới.

Dàn ý số 3

1. Mở bài

Đây thôn Vĩ Dạ chính là một tình yêu vô vọng đối với cuộc sống. Điều này đã trở thành ngọn nguồn xúc cảm làm nên bài thơ. Cuộc sống trong cái nhìn của Hàn Mặc Tử chính là sự sống nói chung, sự sống thuộc về cảnh sắc thiên nhiên, con người tình yêu lứa đôi.

Vào thời khắc mà Hàn Mặc Tử đang trải qua cơn bạo bệnh, thì như một nghịch lí càng tiến về phía cõi chết, thi sĩ càng yêu cõi sống, yêu một cách cuồng si, đớn đau và vô vọng. Đó chính là một tình yêu lớn đối với sự sống bất tử.

2. Thân bài

1) Vẻ đẹp xứ Huế qua Bức tranh thiên nhiên và con người thôn Vĩ

Câu thơ mở đầu là lời thi sĩ tự hỏi mình, vừa giống như một lời mời của ai đó, vừa như thể thầm trách chính mình. Nhưng ý tứ chính của câu thư thể hiện một niềm thèm khát muốn được về thăm thôn Vĩ. Trong xúc cảm của một tình yêu đối với sự sống, thôn Vĩ Dạ được hiện ra thật trong trẻo, thanh khiết. Hình ảnh đậm nhất chính là mảnh vườn của một ngôi nhà thôn Vĩ. Ở đó có hàng cau đang được tắm trong nắng sớm tinh khôi. Câu thơ mang tính tạo hình, rất động. Mảnh vườn được ví với một viên ngọc lớn với hai nét vẽ “mướt quá “và “xanh”- vẻ thanh sạch, và ngời lên một màu xanh mát trong khi ánh nắng của buổi sớm mai toả xuống.

Một nét vẽ nữa là hình ảnh con người thấp thoáng sau rèm trúc. Câu thơ này tồn tại hai cách hiểu: đó là khuôn mặt của những người dân thôn Vĩ hiền lành, trung hậu, sắp gũi. Hay đó là khuôn mặt của chính thi sĩ…

Có thể bức tranh thiên nhiên và con người thôn Vĩ này sẽ chia lìa tan tác. Nó không hề là cái Đẹp bất biến, vĩnh hằng. Nó bị xé ra thành những thực thể mà đáng lí phải vấn vít trong nhau, tồn tại bởi vì nhau. Gió và mây, dòng nước và hoa bắp trên triền sông, thuyền và bến, thuyền với trăng. Sông trăng là một hình ảnh sáng tạo. Từ kịp chứa đầy tâm trạng, lại được đặt trong một thắc mắc tu từ “Có chở trăng về kịp tối nay?”, hẳn là một tâm trạng lo lắng, trông ngóng, phập phồng niềm hy vọng, một niềm mong nhuốm màu vô vọng, cũng tại bởi yêu quá mà ra thế, yêu tới thắt lòng.

– vong hồn của bài thơ này phải là tình yêu, mối tình thầm kín, tha thiết và vô vọng của thi sĩ đối với người con gái thôn Vĩ Dạ, tức là một “ai”đó được gọi tới ba lần: Vườn ai, thuyền ai, ai biết tình ai và chỉ một lần duy nhất được gọi bằng em (áo em). Cách gọi phiếm chỉ bằng đại từ “ai”thể hiện một thái độ dè dặt, kín đáo có phần tự ti, tự trọng của thi sĩ.

– “Mơ khách đường xa” diễn tả cái ý mơ về, ước mong về một đối tượng được gọi là “khách đường xa kia”, tức là cô gái ấy. những câu thơ tiếp theo thể trạng thái thái mơ, là cái ảo – mơ nỗi càng cháy bỏng thì hình ảnh trong mong ước càng có thiên hướng trở thành sợ hãi: “áo em trắng quá nhìn không ra”.

– Câu thơ “ở đây sương khói mờ nhân ảnh” đã méc bảo cho ta một nơi chốn: ở đây, tức là ở trong này, nơi Hàn Mặc Tử đang bị bệnh tật giam cầm đang rất xa rời với không gian ngoài kia, tức nơi Vĩ Dạ và cô gái ấy. tự ti chia lìa lại một lần nữa làm tình làm tội tâm hồn thi sĩ: “Ai biết tình ai có đằm thắm?”. Câu thơ thật ai oán.

III. Kết bài

Cũng như làng cảnh, sông nước, vầng trăng, con thuyền, bến bãi kia không bao giờ thuộc về thi sĩ, giữa thi sĩ và chúng là một khoảng cách vô vọng, thì với cô gái ấy cũng y như thế. Rơi vào vô vọng nhưng tình yêu không chết trái lại tình yêu càng trở nên da diết, đớn đau… Một người yêu sự sống, khát sống tương tự mà sự sống trong anh đang dần tắt. Vì là tiếng của tình yêu vô vọng, nên Đây thôn Vĩ Dạ mang âm điệu nghẹn ngào, khắc khoải.

Xem thêm: Top 16+ mẫu Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ lớp 11 hay nhất

Phân tích bức tranh thiên nhiên Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 1

Trong phong trào Thơ mới (1930-1945) khi phân tích về văn học tôi thấy mình như bắt gặp những chú chim họa mi giữa đêm đông than hót ca nỗi đơn chiếc của mình bằng những tiếng rất riêng trong đó sợ hãi nhất có nhẽ là Hàn Mặc Tử. Bức tranh thiên nhiên mà Hàn Mặc Tử xây dựng trong bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ không chỉ đẹp tinh khôi mà còn đầy dự cảm, chia ly.

Trước hết, bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ đẹp tinh khôi, kỳ vĩ, thơ mộng được khắc họa chủ yếu qua màu nắng và màu lá:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

“Nắng” như một kỉ niệm về ánh sáng của Vĩ Dạ trong ký ức thi sĩ. Nắng là hình ảnh thân thuộc trong thơ ca. Nắng mới và nắng hàng cau cũng được một số tác giả thể hiện. Trong “Nắng mới” của Lưu Trọng Lư có:

“Mỗi lần nắng mới hắt bên song”

hay trong thơ Nguyên Hồng bài “Nhớ” cũng thể hiện một sắc nắng:

“Có nắng chiều đột kích hàng cau”

Thế nhưng, “nắng mới lên” phải chiếu vào tạo ra “nắng hàng cau” mới là nắng của Hàn Mặc Tử. Những tia nắng trước hết của buổi sớm chiếu rọi trên hàng cau và hàng cau tắm trong sắc nắng sớm mai. Ánh sáng của Hàn Mặc Tử trình bày thuộc về ký ức thật sống động, lung linh, trong trẻo, tinh khiết, rực rỡ. Hai chữ nắng trong một câu thơ tạo nên một tiết tấu khác thường. Có một cái gì như là náo nức, e lệ của con trẻ lần đầu mặc chiếc áo mới thật rộn rực, thơ ngây. Thiên nhiên Vĩ Dạ còn mở thêm một màu xanh mát mắt:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

“Vườn ai” là một khu vườn mà chủ sở hữu đã được xác định rõ ràng là “ai”. Sắc nắng, vị nắng trộn hoàn cảnh vật vừa như vút lên cái tầm thanh thoát của hàng cau xứ Huế lại vừa như ùa xuống, tràn lên tất cả vườn ai. Câu thơ như một sự buột mồm không kìm nổi lòng mình của con người gieo nên khi bắt gặp một sắc màu xanh biếc. Cảnh vật đêm qua tắm một trận mưa rào, cây cối rửa sạch vô cùng, giọt nước rất nhỏ đọng lại chờ tới sáng sớm sẽ có những tia nắng xuyên qua mà ánh lên sắc ngọc. Sáng xanh được cụ thể trong hai từ “mướt quá”. Tàu lá như được láng nước lên và mềm mại, mỡ màng, tràn trề sức sống khi phơi mình trong ánh nắng. nếu như không có lần thứ hai trở về với Vĩ Dạ chắc hẳn tiếc nuối và đớn đau lắm! Bức tranh thiên nhiên bỗng có bước “cóc nhảy” khi hình ảnh được thể hiện nhường nhịn như đầy chia lìa, tan tác:

“Gió theo lối phong vân đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Một cái nhìn rất tâm trạng chứ không phải là cảnh tả thực cuộc sống như trước đó nữa. Cuộc sống thật thì làm gì có gió một lối mây một đường mà phải là “gió thổi mây bay” mới đúng. Hàn Mặc Tử đã nhập vào cảnh sắc thiên nhiên để thể hiện xúc cảm đơn chiếc lạc lõng bởi nhường nhịn như gió và mây đang cố bỏ rơi dòng nước và hoa bắp. Ở lại là một dòng nước “buồn thiu” ủ dột, rời rã, đớn đau còn bắp thì “lay” tẻ nhạt, vô duyên. Bức tranh Hương giang khiến người ta như bước hụt.

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Nắng tắt, trời chiều, cảnh vật ngờ ngạc, ngay tới cả dòng sông Hương của xứ Huế với đêm trăng thơ mộng cũng đi đâu mất. Chỉ có một “thuyền ai” không xác định và một bến sông lênh láng ánh trăng cô quạnh đợi thuyền. Trăng xuất hiện hai lần trong câu thơ đẹp huyền diệu, mĩ lệ đó nhưng khiến người đọc trông thấy ánh sáng ở khổ 1 của nắng mới lên tinh khiết rõ ràng bao nhiêu thì ánh sáng của trăng hư ảo, nhạt nhòa bấy nhiêu. Một bức tranh thiên nhiên hoàn toàn lạnh giá!

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử thể hiện một bức tranh thiên nhiên vừa đẹp vừa thấm thía đơn chiếc, sầu tủi thông qua ngôn từ sáng tạo, âm điệu đa dạng, hình ảnh vừa sắp gũi vừa mới lạ… từ đó, người đọc thấy được tình yêu thiên nhiên, quốc gia sâu sắc của Hàn. Bài thơ đã góp thêm một bức tranh thiên nhiên Việt Nam cho kho tàng văn học nước nhà.

Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 2

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” – Hàn Mặc Tử đã trình bày một cách sinh động, đầy màu sắc về cảnh vật của thôn Vĩ. Qua bài thơ, ta không chỉ yêu thêm về con người mà con yêu hơn nữa nét trữ tình, đằm thắm rất riêng của Huế.

Huế với vẻ đẹp nên thơ trữ tình, nó không chỉ đẹp mà còn gợi cho du khách sự nhớ nhung về một mảnh đất vừa tươi mới, vừa sắp gũi, cổ kính. Vẻ đẹp đó đã tạo nên cảm hứng cho tác giả. Mở đầu bài thơ là một thắc mắc tu từ, gợi cho người đọc bao suy nghĩ: “Sao anh không về thăm thôn Vĩ”. Câu thơ như lời trách móc nhẹ nhõm của một cô gái Huế đối với người cô thương. Nỗi niềm sâu kín như thể hiện một cách kín đáo qua câu thơ, “sao lâu rồi anh không về thăm thôn Vĩ”. Đó còn là lời mời đầy ngụ ý, lời nhắn nhủ về với miền đất xinh đẹp, đáng yêu

Sao anh không về thăm thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Bức tranh làng quê hiện lên đầy màu sắc, quang cảnh làng quê bình dị nhưng vô cùng đẹp đẽ. Màu nắng mới “nắng mới lên” tinh khôi, không phải là ánh nắng chói chang của những ngày hè, cũng không là cái nắng yếu ớt sau những ngày đông u ám, mà là “nắng mới” nhẹ nhõm, rét mướt, cho người ta có cảm giác thư thả dễ chịu. Nắng mới chiếu lên hàng cau thẳng tắp, như đang đón lấy, tỏa ra thứ sức sống căng tràn đang trỗi dậy, vươn vai trong nắng sớm. Cả bức tranh với màu sắc chủ đạo là màu xanh, không chỉ có màu xanh của hàng cau mà đó còn là màu xanh của cả khu vườn, một màu “xanh mướt”. Từ “mướt” làm cho người đọc liên tưởng tới một màu xanh óng, khắp nơi đều là màu xanh, ánh nắng chiếu rọi lên toàn khu vườn làm cho cây cối ánh lên như màu ngọc bích.

Cũng có thể, nắng sớm soi xuống những hạt sương sớm còn đọng trên phiến lá tạo nên thứ ánh sáng long lanh làm cho thi sĩ liên tưởng tới những hạt ngọc. Trong quang cảnh thiên nhiên trữ tình đó, hình ảnh con người xuất hiện mờ ảo trong nắng mới. Tác giả không nói rõ là ai,người đọc chỉ có thể hình dung ra bóng vía ẩn hiện sau màu xanh của lá trúc: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Đó có thể là hình ảnh của người đi thăm vườn lúc sáng sớm, đó cũng có thể là hình ảnh của chính người mà tác giả thầm thương trộm nhớ, hoặc giả sử đó chỉ là hình ảnh tưởng tượng trong sự nhớ nhung về một ai đó của chính thi sĩ. Bức tranh thôn Vĩ hiện lên trong sự nuối tiếc, nhớ nhung của tác giả, dù với chỉ vài nét vẽ nhưng chúng ta có thể nhận thấy nét đẹp tinh khôi, nên thơ của nơi đây. Không chỉ có thể, ẩn hiện sau từng câu chữ tả cảnh, chính là nỗi lòng của chính thi sĩ, niềm hy vọng, sức sống của tuổi xanh, khát vọng sống mãnh liệt. Xa, xa, theo dòng sông Hương thơ mộng, chính là gió, mây, sông, nước:

Gió theo lối gió, mây đường mây
Mặt nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

quang cảnh thiên nhiên đậm tình của tác giả, phong vân không đi chung một hướng, gió đi một đường, mây đi một nẻo. Cảnh vật nhường nhịn như có sự chia tách, mặt nước sông Hương hẳn có phải vì vậy mà cũng trở nên buồn bã hay không “Mặt nước buồn thiu hoa bắp lay”. Hoa bắp hai bên bờ sông thoáng lay động, cả không gian tĩnh lặng ấy chỉ cảm thấy có sự vận động khẽ khàng của hoa bắp hẳn có phải đang yên ủi sông Hương trong sự chia ly của mây và gió.

Rời xa quang cảnh thiên nhiên trầm lặng ấy, tâm trí trong tác giả hướng về thứ ánh sáng trong trẻo, nhẹ nhõm của ánh trăng “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó”. “Thuyền ai” tác giả một lần nữa không nói rõ là ai, chỉ thấy hình ảnh con thuyền đang đậu trên bến sông. Cả dòng sông bỗng trốc hóa thành dòng sông trăng, ngay cả bến đậu cũng trở thành “bến sông trăng”. Con thuyền như chở cả ánh trăng, chở cả một dòng ký ức của chính thi sĩ. Ánh trăng đó có về kịp về để chứng kiến cho tâm chân tình của thi sĩ hay không, hay đó chỉ là sự nhớ nhung đầy tiếc nuối, trong ký ức của thi sĩ bỗng hiện về hình ảnh về người con gái mà tác giả thương

Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đằm thắm?

Từ “mơ” được đặt ở đầu câu, đó có thể là giấc mơ, cũng có thể chỉ là mong ước. Người con gái ấy đi cả vào trong giấc mơ của thi sĩ. Hình ảnh ấy bỗng nhạt nhòa trong màu trắng tinh khôi của áo dài. Bởi người con gái đó giờ đã đi xa chỉ có thể là “khách đường xa”, thi sĩ không còn nhớ nổi hình ảnh người con gái đó nữa, dù trong mơ vẫn luôn chờ đợi hình bóng ai đó nhưng tất cả chỉ còn lại một màu trắng thấp thoáng xa xa giữa cái hư vô trong màu kỷ niệm “mờ nhân ảnh”. Thế cho nên, tình cảm kia liệu cũng có khi nào cũng chỉ là hư vô như màu áo trắng thấp thoáng, lúc ẩn lúc hiện như màu áo trắng kia “Ai biết tình ai có đằm thắm?”. thắc mắc tu từ không có câu trả lời, là tiếng lòng của chính thi sĩ, liệu ai có biết, liệu ai có còn nhớ hay chăng?

Bài thơ được khắc họa như một bức tranh thủy mặc, với đầy đủ tính chất với cây cối, trăng, sông, nước. Bức tranh thôn quê hiện lên giản dị nhưng đầy thơ mộng, nhưng ẩn hiện sau bức tranh ấy chính là nỗi sầu chia ly, nỗ nhớ nhung sâu sắc của người đang yêu.

Bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 3

Hàn Mặc Tử là một thi sĩ tài hoa nhưng bạc phận. Nỗi đau về bệnh tật, nỗi đau về một kiếp sống ngắn ngủi đã khiến cho những vần thơ của ông thấm đẫm một nỗi buồn da diết. “Đây thôn Vĩ Dạ” cũng là một bài thơ được thi sĩ sáng tác vào những năm cuối đời của mình, với nỗi niềm tiếc nuối với mối tình với cô gái trong mộng chưa kịp chớm nở đã bị số phận trớ trêu cắt đứt. Bài thơ cũng là một bức tranh về thôn Vĩ Dạ thơ mộng bên bờ sông Hương, thật đẹp, những vẫn thấm đẫm một nỗi buồn da diết, bâng khuâng của Hàn Mặc Tử.

Sau thắc mắc trước hết: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, thắc mắc vừa như một lời trách móc nhẹ nhõm, vừa như một lời mời về với thôn Vĩ Dạ, toàn bộ cảnh vật nơi đây hiện dần lên qua những dòng thơ của Hàn Mặc Tử.

“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

quang cảnh thôn quê mộc mạc nhưng cũng vô cùng đẹp đẽ hiện lên trước mắt người đọc qua từng câu thơ. Từ cổng vào, đã thấy hàng cau thẳng tắp, xanh mướt. Từng tia nắng chiếu trên hàng cau ấy. Nắng mới lên là một màu nắng nhạt, không quá chói chang và cũng không gây ra cảm giác nóng nực của nắng trưa. Nắng mới lên trải đều lên hàng cau, biểu hiện cho một sức sống mãnh liệt, một vẻ đẹp trẻ trung, khỏe khoắn, sinh động. Vào tới sâu trong vườn, cũng lại chỉ thấy một màu xanh của cây cối, của lá trúc. Cả khu vườn xanh mướt, mượt mà tới lạ thường. Từ “mướt” ở đây, để chỉ một màu xanh bóng, tựa như mọi nơi đều là màu xanh, xanh tới lạ thường. Màu xanh ngọc ở đây ,cũng có thể là do nắng chiếu xuyên qua lá tạo thành màu xanh ngọc, cũng có thể là do nắng chiếu lên những giọt sương sớm còn đọng trên phiến lá tạo thành những viên ngọc long lanh, đẹp tuyệt vời. Trong không gian xanh mộc mạc, giản dị nhưng cũng tuyệt đẹp đó, con người xuất hiện khiến cho cảnh vật càng trở lên sinh động. Tác giả không nói rõ người ấy là ai, cũng chẳng rõ hình dáng khuôn mặt, chỉ biết người ấy ẩn ẩn hiện hiện sau màu xanh của lá trúc. Đó cũng có thể là một người đang săn sóc vườn, cũng có thể là một người khách tới thăm.

Chỉ với vài nét phác họa, nhưng cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ dần dần hiện ra trước mắt người đọc. Cũng có thể do thời gian đã lâu, nên những gì còn đọng lại trong tâm trí Hàn Mặc Tử chỉ là những gì vượt trội nhất, đặc trưng nhất mà thôi. Nhưng cũng chỉ cần có thể, một bức tranh nơi làng quê giản dị, mộc mạc nhưng cũng đầy thơ mộng đã được vẽ nên chỉ với vài nét bút. Không chỉ thế, ẩn sau từng câu chữ tả cảnh, cũng được gửi gắm trong đó nỗi lòng thi sĩ, một niềm hy vọng, một nỗi khát vọng sống mãnh liệt.

Phóng mắt ra xa, chính là trời đất, phong vân, sông nước:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Tuy vẫn là cảnh thiên nhiên, nhưng nó đã bị vương một tí gì đó của sự tan rã, chia ly. Gió thổi mây bay, từ xưa tới nay gió với mây vốn vẫn luôn vấn vít với nhau, chẳng mấy khi tách rời. Vậy mà ở đây, gió đi một đường, mây đi một nẻo, hai tuyến đường ấy không trùng nhau. Gió với mây chia ly, dòng nước cũng trở nên buồn bã, hiu quạnh. Tất cả như ngừng lại vì chán nản, chỉ còn những bông hoa bắp ở hai bên bờ khẽ khàng lay động, như vô tình không biết, hay có nhẽ là đang quan tâm, yên ủi dòng sông đang buồn trước cảnh chia ly. Giữa cảnh thực, Hàn Mặc Tử bỗng lại vẽ lên con thuyền và bến sông trăng. Thuyền sắp đi, liệu có chờ kịp trăng để chở trăng về tối nay. Cái mờ ảo thấm đẫm từng câu thơ, hư hư thực thực. Thuyền trăng, bến sông trăng, đó chỉ là những thứ mà tác giả tưởng tưởng ra, là ảo tượng, là sự tiếc nuối, lỡ làng của một kiếp sống dở dang với đời, với tình.

Ở khổ thơ thứ ba, thấp thoáng đâu đó là hình ảnh người con gái trong lòng “Hàn Mặc Tử:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá, nhìn không ra”

Từ “mơ” được đặt ở đầu câu, có thể hiểu đó là mong ước, cũng có thể là giấc mơ. Người con gái ở nơi xa luôn ở trong tim, trong tâm và đi theo cả thi sĩ vào trong mơ. Đó là do sự nhớ mong da diết người ở phương xa, nên bất cứ lúc nào cũng có thể nhầm tưởng, cũng có thể mơ tới. Thế nhưng, nhớ nhung thì sao, bởi vẫn là sự chia ly. Em đã là “khách đường xa”, anh cũng không thể nhìn thấy em được nữa. Vì đã là người khách đi xa, bóng hình em cũng chỉ còn là những hình ảnh nhạt nhòa, mờ ảo mà thôi. Màu áo dài trắng là một màu đặc trưng của những người con gái Huế, tác giả cũng muốn nhắc tới vẻ đẹp trong sáng, thánh thiện của người con gái ấy. Mãi mãi, người con gái ấy vẫn luôn đẹp trong tâm trí thi sĩ. Thế nhưng, với một cuộc sống ngắn ngủi, thi sĩ chỉ biết thốt lên lời than:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đằm thắm?”

Sương khói mờ nhân ảnh, hay cũng chính là thế cuộc lắm hắc búa, lắm biến cố, lắm thứ làm người ta mờ mắt. Giữa nhân gian bụi bặm, liệu người còn ghi tạc mối tình năm ấy hay là đã quên rồi? Câu thơ cuối, không rõ là ai hỏi ai, có thể là thi sĩ hỏi người tình nơi xa, cũng có thể là thi sĩ tự vấn chính mình. thắc mắc cũng như tiếng kêu thắt ruột, của một con người thế cuộc dở dang mà tơ duyên cũng dang dở. Đoạn cuối khổ thơ đầy những hình ảnh hư hư thực thực, như toàn bộ những xúc cảm vô vọng, khổ cực, nhớ nhung…đang vây lấy thi sĩ.

Về nhan đề, “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là một bài thơ tả cảnh thôn Vĩ, và đúng vậy, một quang cảnh giản dị nhưng đầy thơ mộng đã hiện ra trước mắt người đọc. Thế nhưng, trong cảnh ấy, vẫn thấm một nỗi buồn chia ly, nỗi nhớ nhung sâu sắc của một người đang yêu. Bài thơ sẽ mãi là những vần thơ đẹp nhất trong thế cuộc sáng tác ngắn ngủi của Hàn Mặc Tử.

Bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 4

Hàn Mặc Tử làm thư từ năm 16 tuổi, ông là một thiên tài mà tài năng được bộc lộ rất sớm. Hồn thơ ông vừa có những nét ma mị vừa có nét trong trẻo, tươi sáng, cho thấy một phong cách thơ đa dạng, phức tạp. Đây thôn Vĩ Dạ có thể coi là một trong những bài thơ hay nhất của ông, tác phẩm đã dựng lên quang cảnh thiên nhiên trong trẻo, hiền hòa, mà cũng đầy đơn chiếc của một tâm hồn khát khao yêu thương, khát khao sống mãnh liệt.

Đây thôn Vĩ Dạ được mở đầu bằng bức tranh thật thơ, thật mộng với những đường nét lung linh, tươi sáng. thắc mắc mở bài: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” như một lời trách móc nhẹ nhõm mà cũng đầy tình cảm dành cho Hàn Mặc Tử. Rồi để sau đó mở ra quang cảnh thôn Vĩ mộng mơ, đậm chất xứ Huế:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Không gian thật thân thuộc, sắp gũi đối với bất cứ người Việt Nam nào. Những hàng cau chạy thẳng tắp, cao vút đón đợi cái nắng tinh khôi trước hết của ngày mới. Hai chữ nắng lặp lại trong câu thơ đem tới cho người đọc sự rét mướt, trong sạch với thứ ánh sáng dịu nhẹ lan tỏa khắp không gian. Năng mới là thứ nắng vừa lên, không gay gắt, chói chang mà dịu nhẹ, tinh tế như chính tính cách của con người xứ Huế mộng mơ. Nắng ấy cũng đem tới cho ta cảm giác tươi mới, trong sạch. Dịch chuyển điểm nhìn xuống dưới, cả một khung vườn, cả một viên ngọc khổng lồ hiện ra trước mặt. Sắc xanh phủ kín khắp nơi, cái nắng mới chiếu rọi xuống những hạt sương lí tí, bé nhỏ tạo thành một viên ngọc khổng lồ mang màu xanh ngọc bích. Tuyệt vời và đẹp đẽ biết bao. nếu như câu thơ đầu đem tới cho người đọc sự thanh khiết, tươi mới thì câu thơ này lại đem tới cho chúng ta sự non tơ, mỡ màng. Chỉ với một từ “mướt” thôi cũng đã làm bừng dậy cả sức sống của muôn vàn cỏ cây. phối hợp với giải pháp so sánh Hàn Mặc Tử đã hoàn chỉnh bức tranh thôn quê tràn đầy sức sống. Nhưng để bức tranh đó trở nên hoàn thiện hơn, ông cũng không quên điểm vào đó chân dung mờ ảo, hư thực của nét mặt chữ điền. Thật khó để có thể xác định được mặt chữ điền ở đây là ai, có thể là người con gái, có thể là người con trai ở thôn Vĩ. Chính tính mơ hồ đó đã làm câu thơ trở nên đa nghĩa, giàu trị giá hơn. Đồng thời khuôn mặt chữ điền cũng tạo nên sự hài hòa giữa cảnh vật và thiên nhiên. Đó là sự hài hòa tự nhiên, đậm chất Huế.

Bài thơ mở đầu bằng quang cảnh tuyệt đẹp, trong sáng, tinh khiết, nhưng thoắt đã xuất hiện một bức tranh khác, bức tranh đẹp màu buồn, đơn chiếc vào một đêm trăng trên sông:

Gió theo lối phong vân đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Hai câu thơ đầu vẽ nên quang cảnh đượm buồn với sự xuất hiện của những sự vật: gió, mây, hoa bắp, sông. quang cảnh rộng rãi, thoáng đãng nhưng lại ẩn chứa sự mơ hồ, xa xăm. Mọi sự vật đều chia lìa: Gió theo lối gió, mây theo lối mây, nhường nhịn như giữa chúng không hề có một mối liên hệ nào với nhau. Nghệ thuật đối tài tình đã nhấn mạnh sự chia lìa, cũng như sự cách trở. Tưởng là sắp nhau mà hóa ra lại là chia li muôn trùng. Dòng sông lặng lỡ trôi trong cái thinh lặng của buổi đêm, trong con mắt của thi nhân con sông trở nên “buồn thiu”, bâng khuâng, man mác buồn. Nhịp lay nhẹ, khẽ khàng của hoa bắp như càng làm vượt trội hơn sự hiu quạnh của cảnh vật, cũng như sự đơn chiếc trong chính lòng người. Ngoại cảnh chia lìa, tan tác càng xoáy sâu hơn vào tâm hồn của nhân vật trữ tình, ông tìm tới với trăng để bám víu. Trăng trong thơ Hàn Mặc tử là người bạn, người tri kỷ đối với ông:

Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa
Sương đẫm trăng lồng bóng thiết tha

Hay:

Anh ngâm nga để mở rộng cửa lòng
Cho trăng xuân tràn về say chới với

Trong bài thơ này, cả một sông trăng, thuyền trăng để cứu vớt nỗi đơn chiếc của ông: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay”. Không gian ngập đầy ánh trăng vừa huyền ảo vừa ma mị như gợi nhắc về một quá khứ xa xôi, quá khứ tươi đẹp trước đây của ông. Những lời thơ đựng lên có gì đó như nghẹn lại, khắc khoải hơn, “thuyền ai” một thắc mắc vang ra mà không có hồi đáp, thắc mắc trở nên vô vọng. Và câu thơ sau chứa đựng đầy sự băn khoăn, liệu trăng có kịp trở về tối nay – một khoảng thời gian quá ngắn ngủi. nhường nhịn như ông đang chạy đua với thời gian để dành giật, để được sống. Hai câu thơ đã thể hiện thèm khát gặp gỡ, niềm yêu cuộc sống cũng như nỗi niềm lo lắng, khắc khoải về sự muộn màng, dở dang. Ở khổ thơ này thiên nhiên đã mờ dần, nhường nhịn như không còn định hình được rõ ràng nữa, và sang tới khổ thơ cuối cùng ranh giới giữa những sự vật hiện tượng hoàn toàn không thể phân biệt được nữa: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đằm thắm”. Mọi sắc thái đều được đẩy lên tột bậc: trắng quá, mờ nhân ảnh. quang cảnh nhường nhịn như đi vào cõi mơ, cõi hư ảo chứ không còn là cõi thực nữa. toàn cầu ở đây và toàn cầu ngoài kia nhòe mờ, khắc sâu nỗi đơn chiếc, vô vọng được đẩy lên tới đỉnh điểm của nhân vật trữ tình.

Bằng việc sử dụng linh hoạt những giải pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa,.. ngôn từ tinh tế, súc tích, Hàn Mặc Tử đã vẽ nên bức tranh xứ Huế vừa đẹp đẽ, lung linh vừa huyền ảo, ma mị. Đằng sau bức tranh thiên nhiên đó là tình yêu cuộc sống mãnh liệt, nhưng rơi vào vô vọng, sự thảm kịch.

Bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 5

Hàn Mạc Tử được biết tới là một thi sĩ có sức sáng tạo mãnh liệt với phong cách “điên”, có thỉnh thoảng là vượt ra khỏi toàn cầu hiện thực, tràn ngập mộng mị. Tuy nhiên sáng tác của ông vẫn có những vần thơ về thiên nhiên mượt mà, đẹp tươi như rọi vào lòng người đọc xúc cảm mới. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh tuyệt đẹp về cảnh vật, thiên nhiên xứ Huế mộng mơ. Bức tranh ấy neo đậu trong lòng thi sĩ và neo lại trong lòng người đọc nhiều dư vang.

“Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ ghi được sau một bức ảnh được gửi từ người con gái xứ Huế. Khi ấy Hàn Mạc Tử đang ở Quy Nhơn dưỡng bệnh. Nỗi nhớ mong, hoài niệm về con người và thiên nhiên xứ Huế, Hàn Mặc Tử đã viết bài thơ tuyệt đẹp này.

Thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” nhường nhịn như cũng mang nhiều gam màu, nhiều cung bậc lộn lạo trong chính xúc cảm của thi sĩ.

Mở đầu bài thơ là lời trách móc nhẹ nhõm, tình tứ người “khách xa” sao lâu nay không về Huế chơi:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Tứ thơ thật đẹp, thật tinh tế và ẩn chứa nội dung sâu xa. Nỗi nhớ về Huế được tác giả gửi gắm qua lời trách yêu nhẹ nhõm này. Hàn Mạc Tử đã dẫn dụ người đọc khám phá một bức tranh xứ Huế nhiều nét đẹp riêng.

Sau lời trách móc ấy, một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, tràn đầy sức sống hiện ra:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Bức tranh thiên nhiên xứ Huế vào buổi sáng sớm mai tinh khôi, trong sạch. Ánh nắng đầu ngày luôn tinh khô, tràn đầy sức sống nhất. nhường nhịn như ánh nắng đang lên cao trên những hàng cau dài thẳng tắp. Từ “nắng” được lặp lại hai lần như nhấn mạnh bầu không khí trong sạch nhất ở xứ Huế mộng và thơ. Một khu vườn hiện lên thật xinh xẻo và tươi đẹp. “Vườn ai” phiếm chỉ một địa danh cụ thể nào đó nhưng tác giả ngụ ý không nói ra. Màu xanh “như ngọc” của khu vườn khiến cho bức tranh bừng lên sức sống. Không phải xanh non, xanh rì mà là “xanh mướt”. Từ “mướt” làm mềm cả câu thơ và khiến cho quang cảnh trở nên hiền dịu và nên thơ hơn

tới câu thơ cuối nhường nhịn như hình ảnh con người mới xuất hiện. Mặt chữ điền là khuôn mặt phú hậu, hiền lành của người con trai. Cây trúc biểu tượng cho chí trí nam chi. có nhẽ có “khách đường xa” nào đã ghé thăm xứ Huế, nhưng chỉ là ghé thăm một cách thầm lặng tương tự.

Qua tiếng nói điêu luyện, giọng văn nhẹ nhõm, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên xứ Huế nên thơ nhất. Tuy nhiên sang tới khổ thơ thứ hai thì nhường nhịn như bức tranh thiên nhiên ở đây đã khởi đầu chuyển màu:

Gió theo lối phong vân đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Có một sự chia ly, tan vỡ ở trong hai câu thơ. Mây và gió vốn chung đường nhưng trong thơ Hàn Mạc Tử lại chia lìa đôi ngả. Hình ảnh hoa bắp ven bờ sông hương lay nhẹ rơi rụng xuống mặt nước khiến người đọc liên tưởng tới sự nổi trôi, cập kênh của một đời người. Thiên nhiên ở đây vẫn đẹp, nhưng đẹp mang nỗi buồn mênh mang và sâu thẳm.

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

Xứ Huế với một đêm nên thơ, tràn ngập ánh trăng nhưng nhường nhịn như tác giả đang thấp thỏm, lo lắng điều gì đó. Từ “kịp” khiến cho mạch thơ vỡ ra, vội vàng và gấp gáp hơn. Tác giả đang hỏi ai hay hỏi chính bản thân mình

Và tới khổ thơ cuối thì nhường nhịn như thiên nhiên đã chuyển sang gam màu khác, mờ ảo, huyền diệu hơn:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ai biết tình ai có đằm thắm

Một đêm trăng mờ ảo, sông nước mênh mông khiến tác giả có cảm giác như mọi thứ đang ở trong cõi hư vô. Màu trắng bao trùm lấy khổ thơ cuối. Sự mộng mị của cảnh sông nước khiến cho tác giả thấy mình chới với, không có lợi thế. thắc mắc cuối cùng của bài thơ là một thắc mắc da diết và day dứt, nó như một điệp âm cứ thổn thức mãi trong lòng tác giả.

Bức tranh thiên nhiên của xứ Huế có sự chuyển biến qua ba khổ thơ theo hướng hư vô, mờ ảo dần. Tuy nhiên người đọc vẫn trông thấy được sức sống tràn trề, nét đẹp tinh khôi của một bức tranh thiên nhiên ở Huế.

“Đây thôn Vỹ Dạ” là một bức tranh về xứ Huế vừa tươi đẹp, vừa mộng mơ, vừa huyền ảo khiến người đọc có cảm giác như đang lạc vào chốn bồng lai tiên giới.

Bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 6

“Đây thôn Vĩ Dạ” ra đời ngẫu nhiên trong một lần Hàn Mặc Tử nhận được bức thư của nàng thơ Hoàng Thị Kim Cúc xưa gửi cho thi sĩ trong những ngày cuối cùng của đời người bên giường bệnh. Bức thư kèm theo một bức ảnh chụp cảnh núi sông mây trời xứ Huế. Quá khứ về những ngày ở Huế ùa về, Hàn Mặc Tử chợt xúc động và viết lên bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. có nhẽ, đó là lí do bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ trong bài thư lại đầy sắc, hương và tình tới thế.

Trong số những nhà văn, thi sĩ Việt Nam, ít ai chịu nỗi đau đời nhiều như Hàn Mặc Tử. thế cuộc Hàn bị ruồng bỏ nơi bãi bồi, chòi gác. Người chịu căn bệnh phong hành tội thể xác tới cuối đời. Đưa nỗi đau vào những tác phẩm, Hàn Mặc Tử trở thành đỉnh cao thơ Mới với cái “tôi” hoàn toàn “loạn” và khác biệt. Tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” tiêu biểu cho cái tôi kì dị ấy. Thế nên mới có lời nhận xét thế này “Thơ Hàn Mặc Tử thường có bước cóc nhảy về ý, ý nọ cách ý kia một khoảng rất xa, thoạt nhìn tưởng đầu Ngô mình Sở…”. Chỉ riêng cách thể hiện bức tranh thiên nhiên trong bài thơ, ta đã thấy những điểm đó.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được thể hiện tập trung chủ yếu trong hai khổ thơ trước hết. Hàn Mặc Tử đã khắc họa hai bức tranh với hai gam màu khác nhau, một tươi sáng đầy sức sống; một thấm đẫm lạc lõng, đơn chiếc, dự cảm bất an.

Trước hết, bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ đầy sức sống gợi về từ quá khứ tươi đẹp thời tuổi xanh đầy niềm yêu sống và hoài bão của Hàn Mặc Tử những ngày ở Huế. Thuở đó, khi anh thi sĩ lắm mộng mơ phải lòng cô gái Huế Hoàng Thị Kim Cúc, tâm hồn người đang yêu khi nào chẳng phơi phới. Vậy nên Vĩ Dạ sống trong lòng thi sĩ mới tràn trề sức sống như thế:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Vĩ Dạ nhiều cau. Những hàng cau xanh bát ngát của buổi sớm mai cộng hưởng ánh nắng vàng rực và sắc non tơ mơn mởn của vườn cây trái Vĩ Dạ sao mà khó quên tới thế. Mỗi sớm, mặt trời rọi ánh dương xuống xuyên qua kẽ lá cau dài đổ thành giàn đan xuống mặt đất. Những thân cau cao, thẳng, nhiều đốt. Nắng rọi xuống thân cau in bóng một cây thước khổng lồ đang cần mẫn đo đạc mực nắng. Ánh nắng chiếu xuống nhưng lại có sắc “mới lên”. Một câu thơ có tới hai từ nắng. Hàn Mặc Tử đã lấy màu nắng để tẩy rửa sắc xanh ánh lên màu ngọc bích. Có ai không yêu một Vĩ Dạ đầy sống động như thế. Sống động tới độ có gương mặt chữ điền nào đó cứ say đắm nhắm nhía quên mọi thời gian và không gian?

“Gió theo lối phong vân đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”

Bức tranh thiên nhiên bỗng “cóc nhảy” tới không gian trời mây sông nước với những tình cảm đứt gãy và chia lìa. Vừa mới vườn non tơ mơn mởn đây thôi mà giờ chỉ có nước “buồn”, hoa bắp cô liêu, “thuyền ai” bất định… Vừa mới đây thôi còn đằm đằm ấm ấm ánh mắt ai đó say đắm cảnh sớm mai. Nay bỗng chốc thấy bóng người đang chới với một “bến sông” mòn mỏi chờ “thuyền ai” đem ánh trăng hạnh phúc về. Bức tranh có sông, nước, hoa, thuyền, bến, trăng tràn đầy ấy sao chỉ nổi tiếng thở than thiu nghỉu, dự cảm không “kịp”.

Ngoài tiếng buồn thở than, ta thấy bức tranh như đang bị cắt rời, lìa bỏ nhau. Gió thổi mây bay. vậy mà gió “lối gió”, mây lại “đường mây”. Thuyền và bến luôn luôn đi liền với nhau. Thuyền cần bến đậu. Bến có thuyền mới là bến. Vậy mà thi sĩ không rõ thuyền ai, thuyền đâu. Một bức tranh chỉ thấy sự cô liêu và đứt gãy. Thế nhưng, có một điều chúng ta thừa hiểu rằng. Người càng lo sợ, càng bất an thì càng chứng tỏ tình yêu vô bờ bến với thiên nhiên Vĩ Dạ.

Tóm lại, Hàn Mặc Tử đã sử dụng nhiều nghệ thuật khác nhau để thể hiện bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ như sáng tạo ngôn từ, gieo vần, bắt âm, từ sử dụng giàu sắc thái, giọng thơ linh hoạt. từ đó, thi sĩ nói lên tình yêu thiên nhiên, quốc gia sâu nặng, thiết tha.

Bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 7

Hàn Mặc Tử là một hồn thơ mãnh liệt và có sức sáng tạo đặc biệt nhưng luôn quằn quại đớn đau vì một căn bệnh hiểm nghèo. Ông là tác giả tiêu biểu cho “trường phái thơ loạn” xa lạ với đời thực. Tuy nhiên, Hàn Mặc Tử cũng có những bài thơ thật tuyệt mĩ và trong trẻo lạ thường viết về thiên nhiên, quốc gia và con người như Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín…

Đây thôn Vĩ Dạ được in trong tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Bài thơ được ông viết khi nhận được bức ảnh chụp về phong cảnh Huế kèm theo mấy lời thăm hỏi của người bạn gái có tên là Hoàng Cúc. Những kỉ niệm về vùng đất và con người xứ Huế được sống lại trong bài thơ. Lúc này, ở Quy Nhơn ông đã biết mình mắc bệnh hiểm nghèo. Vì vậy bài thơ là một bức tranh đẹp về thiên nhiên xứ Huế nhưng cũng thấm đượm nỗi buồn da diết, bâng khuâng:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

thắc mắc Sao anh không về chơi thôn Vĩ có thể là câu tự vấn. Từ anh có thể là đại từ nhân xưng được sử dụng ở thứ bậc nhất, mang tính chất giãi bày, thể hiện niềm nuối tiếc. Nhân vật trữ tình đã tự trách mình sao lại không về chơi thôn Vĩ. Giọng thơ đượm buồn có pha chút hối hận.

Cảnh vườn cây đẹp trong nắng sớm mai với cành lá mơn mởn ướt sương, ánh như ngọc được trình bày trực tiếp, qua những hình ảnh cụ thể, sinh động:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Rồi con người xuất hiện:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Khiến cho thiên nhiên bỗng trở nên sinh động hẳn lên. Thiên nhiên như được thổi thêm một luồng sinh khí, tạo nên nét đẹp hài hòa trong trị giá tạo hình. Ở đây, câu thơ vừa trình bày khuôn mặt chữ điền vuông vức đầy đặn ẩn chứa bên trong cảm giác hiền lành đã bị trúc trong vườn che khuất (cảnh thực) vừa như nói tới một trở lực ngăn cách tình người.

Sau vườn cây xứ Huế là thiên nhiên xứ Huế. Cảnh trời, mây, sông, nước ở đây thật đẹp, nhất là cảnh một dòng sông được tưới đẫm ánh trăng với con thuyền cũng đầy ắp ánh trăng. Nhưng tất cả đều thấm đượm nỗi buồn. Cách trình bày thể trạng thái thái mộng ảo của tâm hồn thi sĩ. nếu như như ở khổ thơ đầu, nỗi buồn chỉ lộ rõ ở một câu thì ở khổ thơ này, nhường nhịn như nỗi buồn giăng trải ra ở khắp cả khổ thơ:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Câu thơ như xẻ ra làm hai diễn tả sự phân cách, li tán của thiên nhiên nhưng lại gợi ra sự chia ly của lòng người. Nó như lưỡi dao rạch vào nỗi đau của thân phận kẻ bị chia lìa.

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Nỗi buồn của thi nhân đã lan trải ra khắp không gian theo quy luật tâm lý người buồn cảnh có vui đâu bao giờ (Nguyễn Du).

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Ánh trăng huyền ảo tràn đầy vũ trụ nên không khí hư ảo. Tâm trạng mộng mơ của thi nhân nhường nhịn như đã cảm nhận được tất cả: sông trăng, bến trăng, thuyền chở trăng. Khổ thơ cho thấy con người thân thơ rất đơn chiếc, đang thèm khát được ai đó chia sẻ, tâm sự. Có chở trăng về kịp tối nay là một thắc mắc vừa như khắc khoải, canh cánh, vừa như hy vọng chờ đợi một cái gì đang rời xa, biết có khi nào quay trở lại.

Tiếp tục nối mạch thơ trên, khổ thơ thứ ba thể hiện một nỗi niềm canh cánh của thi nhân trong không gian mông mênh của trời, mây, sông, nước đã thấm đẫm ánh trăng. Đó là sự hy vọng, chờ đợi, mong mỏi và một niềm khắc khoải khôn nguôi. Vẫn ở trong mộng ảo, vì vậy cảnh và người ở đây đều hư hư, thực thực. Đối với thi nhân thì tất cả chỉ là sự cảm nhận.

thi sĩ nằm mộng thấy một khách đường xa, cảm nhận rõ một bóng hình người con gái Huế thơ mộng song không thể nắm bắt được, thoắt ẩn, thoắt hiện, áo em trắng quá nhìn không ra.

Sự hụt hẫng tới cao độ, thi sĩ muốn bấu víu, cầm nắm mà không được vì cảnh đầy màu hư ảo lẫn khói mây:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Bóng hình của mĩ nhân mờ ảo trong sương, nhưng cũng có thể đó là ngụ ý của người viết. Phải chăng đây là biểu tượng của cái “không đi tới đâu” trong tình yêu của Hàn Mặc Tử:

Ai biết tình ai có đằm thắm?

Một thắc mắc không rõ thứ bậc, không cần sự trả lời nhưng người đọc cũng hiểu được ý nghĩa của nó, vì những khổ thơ đầu của bài thơ đã xuất hiện những cụm đại từ vườn ai, thuyền ai và những thắc mắc như thế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Có chở trăng về kịp tối nay?

Tâm trạng mong mỏi, khát khao bao nhiêu thì sự day dứt, đau buồn cũng tăng lên bấy nhiêu.

Tóm lại, cảnh trong Đây thôn Vĩ Dạ là cảnh của vườn quê sông nước xứ Huế. Cảnh đẹp, giàu sức sống, thơ mộng nhưng đượm một nỗi buồn bâng khuâng, da diết. Cảnh ấy như là sự thể hiện biện chứng tâm hồn của một nghệ sỹ tài hoa nhưng đa tình, đa cảm. Mỗi khổ thơ là một thắc mắc, như một nỗi buồn day dứt lòng người. Vì vậy âm hưởng chung của bài thơ là buồn nhưng không bi lụy.

Bài thơ thể hiện một tâm trạng rất thật của thi sĩ và một tình yêu xứ Huế thiết tha. Những chi tiết hình ảnh, thủ pháp nghệ thuật, cấu tứ của bài thơ đều được Hàn Mặc Tử vận chuyển bằng chính tình cảm của mình.

Bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 8

Hàn Mặc Tử là thi sĩ với phong cách sáng tác riêng và “lạ” trong phong trào Thơ mới. Thơ ông luôn bộc lộ nỗi niềm da diết với đời, với người nhưng nhận lại là sự thờ ơ và lãnh đạm. Đọc thơ Hàn Mạc Tử, chúng ta trông thấy cái tôi tương đối hướng “điên” với những vần thơ “suýt” vượt ra khỏi “mảnh đất hiện thực”. Nhưng đối lập với những hình ảnh “điên” đó là những hình ảnh thơ rất đẹp và thi vị. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một ví dụ tiêu biểu. Bức tranh thiên nhiên xứ Huế hiện lên nên thơ và tươi đẹp qua những nét vẽ tài hoa của tác giả.

“Đây thôn Vĩ Dạ” thực ra là lời đáp của thi sĩ dành cho một cô gái ở thôn Vĩ Dạ khi cô gái ấy trách sao lâu rồi không ghé về chơi. Tứ thơ được viết ra từ mạch xúc cảm thành tâm và mãnh liệt đó.

Huế luôn là mảnh đất gợi nhớ, gợi thương đối với những ai đã từng đặt chân qua đây. Bởi nó có một nét đẹp vừa tươi mới, vừa cổ kính, vừa sắp gũi. Thiên nhiên trong bài thơ chính là chất liệu để làm tôn thêm hình ảnh con người nơi xứ Huế.

Câu thơ đầu có thể nói là câu thơ phác họa một cách rõ nét nhất bức tranh thiên nhiên tươi đẹp và đầy lôi cuốn của mảnh đất kinh đô này:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Khổ thơ được đựng lên bằng tiếng trách hờ của cô gái đối với nhân vật trữ tình. Một câu trách nhẹ nhõm, nhưng tình cảm và đầy sự tinh tế. Dù có trách thì người khác cũng không nỡ lòng nào để giận để hờn. Và đằng sau câu trách ấy là một bức tranh thiên nhiên thơ mộng được vẽ ra. Có thể nói tác giả đã không còn đơn thuần sử dụng chất liệu tiếng nói để vẽ tranh nữa mà đã sử dụng cả sự rung động trong trái tim để vẽ nên bức tranh tuyệt đẹp đó.

Thiên nhiên cứ thế sáng rực lên, tươi tỉnh và khỏe khoắn. Cách sử dụng từ “nắng mới lên” gợi cho người đọc liên tưởng tới nắng đầu ngày, nắng rạng đông thư thả, dễ chịu và nhẹ nhõm. Nắng mới lên đậu trên hàng cau xanh vút khiến người đọc mường tượng tới một quang cảnh thanh mát và trong sạch.

Ở câu thơ thứ ba, tác giả sử dụng đại từ phiếm chỉ “vườn ai” như để hỏi người nhưng cũng là tự hỏi mình. “Vườn ai” vừa bộc lộ sự kín đáo, e sợ, vừa thể hiện sự tinh tế và sâu sắc của thi sĩ. “Vườn ai” thì chính trong trái tim của nhân vật trữ tình đã hiểu quá rõ, quá sâu sắc rồi. Màu xanh của khu vườn là một màu xanh rất đặc biệt và lạ kì. “Xanh như ngọc” chính là màu xanh vừa trong sạch vừa tinh khôi. Từ “mướt” như làm sáng bừng lên cả câu thơ, tạo sự mềm mại và uyển chuyển cho khu vườn buổi sáng mai.

Một bức tranh thiên nhiên giàu chất thơ và tươi đẹp biết bao nhiêu.

Sang tới câu thơ thứ hai thì thiên nhiên từ tươi tỉnh chuyển sang buồn bã và vương sự chia li.

Gió theo lối phong vân đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

phong vân xưa nay vốn đi chung đường nhưng trong thơ của Hàn Mặc Tử lại là chia đôi thành hai đường xa lạ. Từ “buồn thiu” như diễn tả được tâm trạng của thiên nhiên, một sự não nùng và thê lương.

Đoạn cuối có thể xem là đoạn thiên nhiên thôn Vi trở nên huyền ảo và mơ hồ hơn. Có thể nói đó chính là sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc của Hàn Mặc Tử.

Với những nét vẽ đơn thuần, nhẹ nhõm nhưng tinh tế và sâu sắc, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên trước mắt người xem một bức tranh thiên nhiên xứ huế vừa tươi mới, vừa thơ mộng, vừa u sầu. có nhẽ đó chính là nét đặc trưng của Huế.

Bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 9

Hoài Thanh – Hoài Chân đã nhận xét về hồn thơ Hàn Mặc Tử là một “vườn thơ rộng rinh không bờ bến”, mang theo cảm giác “càng đi xa càng ớn lạnh”, ớn lạnh bởi thơ chính là tiếng khóc của người thơ, và chỉ “thét lên bằng thơ”. Tiếng khóc ấy đã được thi sĩ gửi gắm vào trong tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ”, dẫu rằng cảnh thiên nhiên trong bài thơ thật đẹp, nhưng lại được nỗi buồn da diết, bâng khuâng.

Cảm hứng để thi sĩ đựng bút viết nên bài thơ này, đó là nhờ tấm bưu thiếp và những lời thăm hỏi của bà Hoàng Thị Kim Cúc. Có thể xem đây là duyên cớ để thi sĩ thanh minh tình yêu tha thiết với thiên nhiên, cuộc sống và con người, từ đó giúp ta cảm nhận được tâm trạng của thi sĩ trong hoàn cảnh trớ trêu, xấu số.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” hiện ra qua bức tranh thôn Vĩ lúc sớm mai. Bài thơ đã mở ra bức tranh ấy bằng một thắc mắc đầy gợi mở, dẫn dắt người đọc:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

thắc mắc vang lên vừa như lời trách móc, lời mời gọi tha thiết của người con gái thôn Vĩ, nhưng cũng lại như lời tự vấn bản thân vì sao lại chưa về thăm thôn Vĩ. Phải chăng, đây là ước ao thầm kín, là niềm khát khao được trở về của thi sĩ, để thăm lại cảnh cũ, người xưa? Bài thơ tiếp tục mở ra cho chúng ta một quang cảnh thiên nhiên đẹp tinh khôi, ngỡ ngàng:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Điệp từ “nắng” và hình ảnh “nắng mới lên” đã gợi lên sắc nắng rét mướt, trong trẻo, tinh khôi. “Mướt quá” là tính từ đầy gợi cảm, mượt mà óng ánh đầy xuân sắc. Sự phối hợp với đại từ phiếm chỉ “ai” khiến cho câu thơ như một lời tự thán, tụng ca cái đẹp tột cùng. thi sĩ đã so sánh màu xanh với ngọc, diễn tả được sự xanh trong, vừa có màu vừa có ánh. Vườn thôn Vĩ lúc này như một viên ngọc rười rượi sắc xanh, tỏa ánh sáng vào sớm mai. Lúc này, một bóng hình đẹp bỗng xuất hiện:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”:

“Mặt chữ điền” là mặt của một chàng trai? Hay đó là gương mặt của một cô gái? Dẫu sao, ta vẫn có thể cảm nhận được đó là biểu tượng của nét đẹp phúc hậu, hiền lành. Nét đẹp ấy được “lá trúc che ngang”, lá trúc mảnh mai, gợi nét đẹp kín đáo, dịu dàng của con người xứ Huế. Câu thơ giàu chất tạo hình, đó là sự hài hòa giữa quang cảnh thiên nhiên xứ Huế (hàng cau, lá trúc…) và bóng hình của con người (mặt chữ điền) trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng. Ta có thể cảm nhận được cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trong nắng mai, với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà thanh tú, nghiêng về cõi thực. Bức tranh thiên nhiên dẫu đẹp, nhưng không thể phủ nhận rằng ẩn sau đó là một tâm trạng nuối tiếc, một nỗi niềm tha thiết được giao cảm với cái đẹp, với thiên nhiên và con người thôn Vĩ.

Không chỉ ngừng lại ở đó, bức tranh thôn Vĩ lại một lần nữa hiện lên, nhưng lúc này, nó không còn là một khu vườn sớm mai nữa, mà lại là bức tranh sông nước trong đêm trăng:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Điểm nhìn thay đổi từ sớm mai sang đêm tối, từ cảnh vườn thôn tới sông trăng, từ quang cảnh hiện thực sang không khí hư hư thực thực đầy huyền ảo. Ta cảm nhận được sự chia lìa li tán được gợi lên qua cả hình ảnh và nhịp độ. Hình ảnh “Gió theo lối gió, mây đường mây” vận động trái với tự nhiên. Nhìn theo lô gích hiện thực thì mây và gió không thể tách rời. Đây là sự tách rời phi lí và ngang trái. Có thể thấy, sự vật được nhìn nhận không phải bằng cái nhìn thị giác mà bằng tự ti chia lìa. Đồng thời thi sĩ còn nhân hóa “Dòng nước buồn thiu” để nhấn mạnh nỗi buồn. “Hoa bắp lay” thể hiện sự phiêu tán, sự ra đi, lưu luyến vô vọng. Từ những hình ảnh ấy, ta trông thấy chủ thể trữ tình cảm thức về thân phận bị bỏ rơi. Nhưng sự chia lìa còn được thể hiện ở nhịp độ khác thường. Một câu thơ thất ngôn thông thường sẽ có nhịp 2/2/3, nhưng câu thơ này lại sử dụng nhịp 4/3. Phải chăng mỗi đối tượng bị cách li trong một khuôn nhịp riêng biệt, làm vượt trội sự lìa xa nhau. Hình ảnh và nhịp độ quyện vào nhau khiến cho cuộc chia lìa phong vân càng sắc nét, gây nên xúc cảm đau buồn.

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Từ “kịp” như đang phân cách đôi bờ, như một sự hoảng sợ về những phút giây cuối cùng còn tồn tại trong thế cuộc. tự ti chia lìa thấm đẫm vào vạn vật, đó là tiếng khóc cho thân phận bị bỏ rơi bên trời quên lãng của mình. Nhưng đồng thời, bởi sự chia lìa ấy, mà khát khao níu giữ hiện lên rõ rệt. Bởi chỉ một mình trăng là đi trái lại xu thế chảy đi của những “mây”, “gió”… Từ “kịp” thì lại thể hiện sự phấp phỏng, lo lắng, khát khao được gắn bó, được níu giữ. Đó là niềm thiết tha gắn bó, tha thiết tới đau thương, mãnh liệt mà vô vọng. Bức tranh thiên nhiên sông nước hiện ra dưới đêm trăng thật huyền ảo, những hình ảnh trong đêm giúp ta cảm nhận được tâm trạng hoài nghi, trông ngóng, đồng thời cũng thể hiện khát vọng được giao cảm với thế cuộc trần thế của thi sĩ.

Sang tới khổ thơ thứ ba, bức tranh ngoại cảnh bây giờ trở nên hư ảo, từ “mơ” mở ra như báo hiệu một trạng thái vô thức, thi sĩ đang chìm trong cõi mộng.

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Từ “mơ” mở ra như báo hiệu một trạng thái vô thức, thi sĩ đang chìm trong cõi mộng. Điệp từ “khách đường xa” nhấn mạnh nỗi xót xa của thi sĩ, một hình bóng đẹp nhưng xa vời tới nỗi không thể nào gặp được

“Áo em trắng quá nhìn không ra”

Vì sao lại là “trắng quá nhìn không ra”? Tác giả đã cực tả sắc trắng, trắng một cách kì lạ và bất thần. giải pháp hoán dụ khiến cho màu sắc không còn là màu sắc thực nữa mà là màu của tâm tưởng.

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”

“Ở đây”: hiện thực, là trại phong, nơi tác giả bị cách li với toàn cầu bên ngoài. Lớp từ: “sương khói”, “mờ” đã nhấn mạnh sự nhạt nhòa, hư ảo, hư thực vì đó là giấc mộng của tác giả, mong được liên kết với thế cuộc nhưng không thể. Tất cả khiến cho ta cảm nhận được thảm kịch hiện thực, nhường nhịn như thi sĩ đang bị lưu đày, cách xa toàn cầu ngoài kia.

“Ai biết tình ai có đằm thắm?”

Đại từ phiếm chỉ “ai” lặp lại hai lần cho thấy tiếng gọi tha thiết đầy khát vọng nhưng “khách đường xa” cứ chập chờn rồi khuất núi. Đồng thời, thắc mắc tu từ khiến ta cảm nhận được tâm trạng khổ cực vì đơn chiếc, hoài nghi. Thông qua khổ thơ này, ta trông thấy được sự hoài nghi của tác giả, về nỗi khát khao được sống và được yêu thương, cũng như có thể tận hưởng hết thảy cái đẹp trên đời.

Bức tranh thiên nhiên trong Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh toàn bích, nó ẩn chứa trong đó tất cả tình yêu, niềm say mê cuộc sống của Hàn Mặc Tử. Dẫu bao nhiêu năm trôi qua, chắc chắn bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ vẫn mãi sống trong lòng những người yêu thơ, yêu cái đẹp.