Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ khổ 1 (5 Mẫu + Dàn ý)

Phân tích khổ đầu Đây thôn Vĩ Dạ chúng ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của thi sĩ. Đó là tiếng lòng yêu đời tha thiết, dù đang có sự đớn đau cả về thể xác lẫn tâm hồn, nhưng tác giả vẫn dành cho đời cái nhìn đầy tin yêu, phải là một con người yêu đời lắm mới mơ tưởng về thôn Vĩ đẹp tương tự.

Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ gồm dàn ý và 5 bài văn mẫu siêu hay, ấn tượng nhất. từ đó giúp những bạn học sinh có thêm nhiều gợi ý tham khảo, ôn luyện từ đó biết sử dụng vốn từ, tri thức để viết đúng, viết hay tự tin hơn với khả năng viết văn phân tích.

Dàn ý Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ

1/ Mở bài

Giới thiệu tác phẩm: “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ đặc sắc bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử, bài thơ là bức tranh hài hòa giữa quang cảnh thiên nhiên trong trẻo với tâm hồn suy tư, xót xa của cái tôi trữ tình.

2/ Thân bài

– Trong khổ thơ trước hết của bài thơ, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã hướng ngòi bút tới quang cảnh thiên nhiên giản dị mà đẹp đẽ, trong trẻo của thôn Vĩ.

– “Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác dựa trên xúc cảm tha thiết khi Hàn Mặc Tử đón nhận món quà của Hoàng Cúc là bức thiệp có in phong cảnh xứ Huế mộng mơ cùng lời mời đầy dịu dàng, tha thiết “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”

– Mở đầu bài thơ là nghi vấn tu từ cùng giọng điệu nhẹ nhõm, tha thiết vừa như trách móc, vừa như hờn giận, vừa như lời mời tình thật của người con gái xứ Huế.

– Hoàn cảnh hiện tại không cho phép thi sĩ về thăm Vĩ Dạ nhưng bằng tất cả nỗi nhớ, hồi ức đã có, Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vị Dạ thật sinh động, độc đáo.

– Hình ảnh hàng cau trong thơ Hàn Mặc Tử được gợi tả thật đẹp với màu xanh ngắt của lá cau cùng ánh nắng vàng nhẹ tinh khiết của mặt trời khi buổi rạng đông.

– “Nắng” được điệp lại hai lần vừa gợi ấn tượng về ánh sáng vừa diễn tả được cảm giác náo nức, xôn xao của thi sĩ trước quang cảnh thôn Vĩ.

– quang cảnh khu vườn xanh ngát, căng tràn sức sống của thôn vĩ hiện lên tươi đẹp tới ngỡ ngàng.

– Sắc xanh trong trẻo của những tán lá dưới ánh mặt trời trở lên thật lung linh, thật đặc biệt.

– Trong xúc cảm vô tận, xao xuyến về quang cảnh thôn Vĩ, hình ảnh con người thấp thoáng sau khóm trúc hiện lên thật đặc biệt.

– Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành, phúc hậu mang tới cho người đọc một liên tưởng, phải chăng đây chính là bóng vía của người con gái Hàn Mặc Tử thương.

–> Cảnh và người đã hòa quyện làm một cùng tạo nên bức tranh thơ thật đẹp đẽ, trong trẻo.

3/ Kết bài:

Chỉ với 4 câu thơ ngắn gọn, tác giả Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vĩ Dạ đầy gợi cảm, sinh động cùng tình cảm tha thiết, tràn ngập tình yêu thương của chủ thể trữ tình.

Xem thêm: Những mẫu phân tích bài thương của trần tế xương chọn lọc 

Phân tích khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 1

Hàn Mặc Tử là một trong những cây bút xuất sắc có đóng góp không nhỏ trong phong trào Thơ mới nói riêng và thành tựu thơ ca Việt Nam nói chung, ông còn được nhớ tới là “thi nhân của những mối tình”, “khuấy” mãi không thành khối. Với “Đây thôn Vĩ Dạ” ông đã chạm khắc vào tâm tưởng muôn triệu trái tim một vần thơ tình yêu đơn phương, thơ mộng mà huyền ảo ở xứ Huế mộng mơ.

Thôn Vĩ Dạ được biết tới như sông Hương, núi Ngự của xứ Huế. Bởi vậy, không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều tên tuổi như Nguyễn Bính, Bích Khuê, Nguyễn Tuân đều phát sinh cảm hứng về xứ sở này. nếu như như mỗi tình yêu đều gắn với một thời gian và không gian cụ thể, thì mỗi hình ảnh của nhân vật trữ tình trong bài thơ đều gắn với thiên nhiên và con người thôn Vĩ với những kỉ niệm khó phai mờ.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Đây là lời trách yêu, một sự dỗi hờn thể hiện nỗi ngóng trông da diết của cô gái ở thôn Vĩ. Là lời nói dịu dàng chứa đầy yêu thương ấy chính đã gây xôn xao, đã trở thành nhạc điệu và phát ra lời nói.

Ở câu thơ thứ hai, Hàn Mặc Tử nhanh chóng có mặt ở không gian Vĩ Dạ. Đây là một cuộc hành trình trong tiềm thức thi sĩ:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Cái nắng được mô tả “nhìn nắng hàng cau” song hành với một cái nắng tinh khôi mới mẻ khiến thi sĩ phải reo lên như con trẻ “nắng mới lên”; “nắng” được thắp trên những hàng cau. Du khách thấy được nắng hàng cau và càng tới sắp khu vườn càng thấy màu xanh ngọc của là cây. Đôi mắt thi nhân đang ở trên khu vườn thôn Vĩ, như đang muốn xé toạc vòm trời đen để nhìn thấy rạng đông nắng mới diệu kì thắp lên từ thôn Vĩ Dạ. Nơi có người mình thương nhớ như là một nơi ẩn chứa phép màu cổ tích.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Đã “vườn ai mướt quá” lại còn phát hiện ra cái “mướt quá” ấy còn “xanh như ngọc”. Tất cả đều non tơ và xanh như ngọc cho ta cảm nhận không chỉ bằng thị giác mà còn cảm nhận được thanh âm của những chiếc lá ngọc. Vì “vườn ai” có phải chính là vườn em, là ta thấy khuôn mặt của em trong khu vườn ấy. Đọc thơ Hàn Mặc Tử chúng ta bắt gặp nhiều hình tượng, một toàn cầu vừa thực vừa ảo. bởi vậy, thật khó tin nhưng Hàn Mặc Tử đã gặp lại chính mình với gương mặt chữ điền thời còn là chàng trai trên đất Huế.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền?

Thi sĩ của trăng muốn yêu một tình yêu trong trắng, một tình yêu đắm say thì phải trở lại là con người của ngày hôm qua, con người trong quá khứ, hẳn phải là thi sĩ đa tình phong lưu thời còn làm bạn với Huế. Phải chăng Hàn Mặc Tử đang muốn quên mình trong hiện thực phũ phàng để được yêu thêm lần nữa, yêu nhiều hơn nữa?

Lá trúc phải chăng đang ngăn cách tình người? Làm “Gió theo lối gió, mây đường mây”, tạo nên “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” đưa tới tâm trạng hy vọng phong phanh mà thất vọng tràn trề: “Có chở trăng về kịp tối nay” và kết lại trong lời trách móc:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có mặn mòi?

Hàn Mặc Tử đã khắc họa bức tranh vườn quê thôn Vĩ qua nỗi lòng nuối tiếc bâng khuâng về một mối tình dở dang rồi chạm vào tâm khảo lớp lớp thế hệ Việt Nam trong một tâm trạng thương nhớ. Với bốn câu thơ trong khổ thơ đầu, cảnh nói lên tình, tình buồn thấm sâu vào trong cảnh vật, và nếu như đặt khổ thơ trong cảm hứng chung của cả ta mới cảm nhận được đúng tình và ý thi nhân.

Xem thêm:  Tuyển tập 16+ mẫu Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ lớp 11 hay nhất

Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 2

Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt thi sĩ tiêu biểu nhất trong phong trào thơ mới với sức sáng tạo dồi dào cùng phong cách sáng tác ấn tượng. “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ đặc sắc bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử, bài thơ là bức tranh hài hòa giữa quang cảnh thiên nhiên trong trẻo với tâm hồn suy tư, xót xa của cái tôi trữ tình.

Trong khổ thơ trước hết của bài thơ, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã hướng ngòi bút tới quang cảnh thiên nhiên giản dị mà đẹp đẽ, trong trẻo của thôn Vĩ:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”

“Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác dựa trên xúc cảm tha thiết khi Hàn Mặc Tử đón nhận món quà của Hoàng Cúc là bức thiệp có in phong cảnh xứ Huế mộng mơ cùng lời mời đầy dịu dàng, tha thiết “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”.

Mở đầu bài thơ là nghi vấn tu từ cùng giọng điệu nhẹ nhõm, tha thiết vừa như trách móc, vừa như hờn giận, vừa như lời mời tình thật của người con gái xứ Huế. nghi vấn cũng chính là lời tự trách của thi sĩ với bản thân khi không thể về thăm lại vùng đất Vĩ Dạ, nơi thi sĩ từng có những kỉ niệm tốt đẹp. Hoàn cảnh hiện tại không cho phép thi sĩ về thăm Vĩ Dạ nhưng bằng tất cả nỗi nhớ, hồi ức đã có, Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vị Dạ thật sinh động, độc đáo.

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

Vĩ Dạ là vùng quê nổi tiếng với nghề trồng rau truyền thống, với những hàng cau thẳng tắp xanh mướt. Hình ảnh hàng cau trong thơ Hàn Mặc Tử được gợi tả thật đẹp với màu xanh ngắt của lá cau cùng ánh nắng vàng nhẹ tinh khiết của mặt trời khi buổi rạng đông. “Nắng” được điệp lại hai lần vừa gợi ấn tượng về ánh sáng vừa diễn tả được cảm giác náo nức, xôn xao của thi sĩ trước quang cảnh thôn Vĩ. Nhớ về thôn Vĩ, tâm hồn thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng sáng bừng những xúc cảm trong trẻo, tình thật.

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

quang cảnh khu vườn xanh ngát, căng tràn sức sống của thôn vĩ hiện lên tươi đẹp tới ngỡ ngàng, để tăng hiệu quả về thẩm mỹ, tác giả Hàn Mặc Tử đã sử dụng cách so sánh đầy ấn tượng “xanh như ngọc”. Sắc xanh trong trẻo của những tán lá dưới ánh mặt trời trở lên thật lung linh, thật đặc biệt. Từ “mướt” được tác giả sử dụng rất khéo không chỉ diễn tả được cái mượt mà, tươi tốt của vườn cây mà còn cho thấy sự khéo léo, siêng năng của bàn tay săn sóc khu vườn ấy.

Trong xúc cảm vô tận, xao xuyến về quang cảnh thôn Vĩ, hình ảnh con người thấp thoáng sau khóm trúc hiện lên thật đặc biệt:

“Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”

Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành, phúc hậu mang tới cho người đọc một liên tưởng, phải chăng đây chính là bóng vía của người con gái Hàn Mặc Tử thương. Dáng vẻ xa xôi, bị cách trở bởi hàng trúc nhưng lại mang tới những xuyến xao da diết cho người nhìn. tới đây, cảnh và người đã hòa quyện làm một cùng tạo nên bức tranh thơ thật đẹp đẽ, trong trẻo.

Chỉ với 4 câu thơ ngắn gọn, tác giả Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vĩ Dạ đầy gợi cảm, sinh động cùng tình cảm tha thiết, tràn ngập tình yêu thương của chủ thể trữ tình.

Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 3

Phong trào thơ mới (1932 -1945) đã sản sinh ra một lực lượng những cây bút trẻ đầy tài năng. Những cái tên như Huy Cận, Xuân Diệu hay Hàn Mặc Tử…đã đi sâu vào trong tiềm thức người yêu văn thơ cả trong và ngoài nước. Giữa bầu trời sao lung linh trên thi đàn ngày ấy, Hàn Mặc Tử vẫn rất vượt bậc, ông được chú ý không chỉ vì cái tôi riêng có trong thơ, ông còn rất được quan tâm chính từ hoàn cảnh và số phận đặc biệt của một con người tài năng.

tới với thư từ khi mới 16 tuổi, sự nghiệp sáng tác của ông phôi thai và phát triển đỉnh điểm cho tới tận tương đối thở cuối cùng. Dù ở đề tài nào, người đọc vẫn tìm thấy chính thế cục thăng trầm, dâu bể của ông sau những vần thơ. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một tác phẩm nổi tiếng đã góp phần đưa tên tuổi của Hàn Mặc Tử bừng sáng giữa bầu trời óng ánh sao của văn thơ Việt Nam buổi nào.

“Đây thôn Vĩ Dạ” được thi sĩ lấy cảm hứng từ sự khơi gợi về một kỷ niệm của người yêu cũ. Bài thơ có 12 câu, chia làm 3 khổ, mỗi khổ thơ như một bức tranh tuyệt đẹp về xứ Huế mộng mơ. Khổ trước hết là bức tranh hừng đông nơi thôn, khổ thứ hai là cảnh trăng về trên thôn và khổ cuối cùng là hoài niệm về người xưa nơi thôn Vĩ. Chúng ta cùng thưởng thức cảnh rạng đông trên thôn Vĩ qua khổ thơ đầu để cảm nhận được sức sáng tạo tuyệt mĩ, hồn nhiên, trong trẻo lạ thường nơi tâm hồn thơ Hàn Mặc Tử.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

thi sĩ mở đầu bài bằng một nghi vấn tu từ đa phong cách “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” Lời mời mọc tế nhị, kín đáo này của người con gái xứ Huế xinh đẹp và nên thơ, chở đầy sức hút lạ kỳ. Đó cũng được xem là lời trách yêu của người con gái ấy đối với thi nhân. Câu thơ đầy ý nhị, với nỗi nhớ nhung da diết của cô thiếu nữ đang yêu, nhưng dù là lời mời, lời trách cứ hay lời nhắc yêu đi nữa vẫn dễ mến lạ thường. Không lồ lộ, bỗ bã, nói anh về thăm em, mà nói anh về thăm thôn Vĩ, nhắc nhở anh rằng, hãy nhớ quê hương, anh nhớ quê hương thì anh nhớ em, nơi quê hương có em. Quê hương là em, thôn Vĩ là em và trái lại.

Câu thơ tiếp theo đã gợi lên trước mắt độc giả một bức tranh hừng đông nơi thôn Vĩ có “nắng mới lên” phơn phớt hồng đượm vẻ tinh khôi của rạng đông long lanh trên những tàu cau còn đọng những giọt sương đêm.

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

Cau là loại cây thân nhỏ và cao vút, có quả sử dụng để ăn với trầu và thường được trồng ở trước nhà. Vì có dáng cao vút nên cây cau dễ dàng tiếp nhận những tia nắng trước hết của một ngày mới. Tác giả sử dụng nghệ thuật lặp từ ngữ “nắng…nắng”. văn pháp nghệ thuật giản dị nhưng mang lại hiệu quả cao trong việc nhấn mạnh vẻ đẹp và cái thần của sắc nắng sớm mai. Chỉ với một câu thơ tác giả đã làm hiện lên trước mặt người đọc những nét đẹp trước hết của vườn cây nơi thôn Vĩ. Cũng từ đó chúng ta cảm nhận sâu sắc cái nhìn âu yếm, thiết tha như chờ đón cái đẹp xuất hiện từ lưng chừng trời của thi nhân.

Ở câu thơ thứ ba, “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, “Ai” – đây là một đại từ nhân xưng phiếm chỉ được tác giả sử dụng để nói về khu vườn đẹp này chính là khu vườn nhà cô gái ông yêu. Với vhir một từ mà khẳng định được vẻ đẹp của khu vườn nhà người con gái mà mình từng đắm say mộng mơ, từng thèm khát hạnh phúc lứa đôi. Tiếp sau đó nữa là “mướt quá”, trị giá của từ “mướt” trong câu thơ này gợi cái sắc vẻ bóng láng và mỡ màng nhìn thấy thích mắt của những lá cành vươn lên trong khu vườn trù phú, phì nhiêu được con người chuyên cần săn sóc. Thêm vào đó, chữ “quá” làm tăng màu sắc biểu cảm của tứ thơ. Thông thường từ “quá” nói lên cái mức độ vượt ra ngoài ngưỡng trung bình. Nhưng ở câu thơ này, nó mang âm hưởng của một tiếng reo trong niềm sung sướng, ngây ngất, một lời trằm trồ buột ra tự nhiên khi chợt nhìn thấy một vẻ đẹp bất thần của khu vườn ở một khoảnh khắc đặc biệt. Cùng với nghệ thuật so sánh từ “xanh như ngọc”, thi sĩ càng làm tăng cái vẻ đẹp tới thanh cao, quý phái của khu vườn, mơn mởn dưới ánh sáng rạng đông.

Câu thơ cuối khổ là một khám phá nghệ thuật độc đáo và rất đẹp của thi sĩ Hàn Mặc Tử “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Mới đọc xong câu thơ, chúng ta thường nghĩ ngay tới là tác giả đang ca tụng khuôn mặt chữ điền nào đó thấp thoáng sau nhành trúc. Mặt chữ điền chỉ tướng mạo đẹp của một người có thực chất tốt, phúc hậu, thủy chung. Nhưng nếu như chỉ hiểu theo nghĩa đen kia thì e rằng chưa thực thấu hiểu hết suy tư của tác giả. Cần hiểu câu thơ theo nghĩa của nghệ thuật dáng điệu hóa chứ không phải tả thực, tuy dáng điệu hóa cũng xuất phát từ hiện thực. dáng điệu hóa thường chỉ giữ lại một dáng điệu, cái đường nét chung của sự vật, từ đó, sáng tạo nên một hình tượng có ý nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp của sự vật ấy. Ở đây thi nhân muốn diễn tả những gương hiền lành, phúc hậu thấp thoáng sau tre trúc nơi vườn cây cảnh, cây trái xinh đẹp ở thôn Vĩ Dạ mỗi buổi sớm mai.

Sâu xa hơn nữa, ẩn sau mỗi ý thơ là nỗi niềm luyến tiếc, vương vít về cái đẹp của cảnh và người xứ Huế ở thôn Vĩ, sông Hương đối với thi sĩ tại thời khắc ấy chỉ còn là hoài niệm. Tình cảm yêu quý, trân trọng của thi nhân gửi gắm qua cái nhìn cảnh vật ấy, chợt gợi nhớ, gợi thương trong tâm hồn độc giả chúng ta hai câu thơ của Bích Khê:

“Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn
Biếc tre cần trúc không buồn mà say.”

(Huế đa tình)

Bức ảnh phong cảnh Huế của Hoàng Thị Kim Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử là nguồn cảm hứng để tác giả cho ra đời bài thơ. Người gửi đã nhiều thâm tình, người thụ hưởng được – thi sĩ lại càng sắc sảo hơn. Tác giả nghe như có lời mời mọc, lời trách yêu, hờn dỗi vang lên của người con gái xứ Huế. Từ đó ùa về trong tâm tưởng của ông, quang cảnh thôn Vĩ hừng đông vần vật sức sống. Phải là một con người yêu Huế mãnh liệt, nồng nàn, gắn bó máu thịt với thôn Vĩ, sông Hương, thi nhân Hàn Mặc Tử mới lột tả cảnh và người xứ Huế có hồn tới thế. Và cái làm cho người đọc thực sự cảm kích cũng chính cái đẹp nhất của đoạn thơ là “tâm hồn tác giả luôn hướng về cái thánh thiện, khát khao với cái đẹp của tình người, tình đời dù xa xôi mờ ảo.”

Xem thêm: Cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 4

Hàn Mặc Tử một thi sĩ tiêu biểu trong phong trào thơ mới 1932-1945 với những tác phẩm tiêu biểu. những thi sĩ đã hòa mình vào thiên nhiên, ngắm nhìn cảnh đẹp quê hương quốc gia dù ông đang phải trải qua những đớn đau của bệnh tật với mong muốn được gắn bó lâu hơn với cuộc sống này. Đó là một ý thức đáng ngợi ca và tâm trạng ấy đã được khắc họa rõ trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ”. Khổ 1 là bức tranh thôn Vĩ tươi đẹp cùng tâm trạng tiếc nuối của tác giả.

Khổ thơ khởi đầu bằng một nghi vấn: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” nghi vấn vang lên như một lời trách thầm, nhắn nhủ của nhân vật trữ tình trong tâm trạng vời vợi nhớ mong. nghi vấn đó là của ai mà lại vừa hỏi vừa trách móc vừa nhớ mong nhất định không phải của Hoàng Cúc, không phải của cô gái nào ở thôn Vĩ. Vậy có thể là của ai? Có thể là của Hàn Mặc Tử tác giả đang phân thân để chất vấn chính mình. nghi vấn đó như xác nhận một sự thực đã lâu rồi tác giả không được về thôn Vĩ hay không biết tới bao giờ có thể trở lại thôn Vĩ một lần nữa. Đó là cái cớ rất giàu chất thơ vừa nhẹ hẫng xót xa để gọi về những kỉ niệm thôn Vĩ. Câu thơ bảy chữ nhưng có tới sáu thanh bằng, thanh trắc duy nhất vút lên cuối câu như một nốt nhấn khiến cho lời thơ nhẹ nhõm mà thấm thía những nỗi niềm tiếc nuối vọng lên da diết khôn nguôi. Từ niêm thương nhớ được khơi nguồn như thế, hình ảnh thôn Vĩ chợt sống dậy trong lòng thi sĩ:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Chỉ ba câu thơ Hàn Mặc Tử đã khắc họa được những nét đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế. Mỗi câu thơ là một nét vẽ, mỗi chi tiết sống động tạo thành sự khắc họa sống động đẹp đẽ của thôn Vĩ trong hoài niệm. Trước tiên là vẻ đẹp trong trẻo tinh khôi của buổi sớm mai: nắng hàng cau nắng mới lên không phải là cái nắng chang chang dọc bờ sông trắng mà là cái nắng trong trẻo tinh khôi của một ngày. Chỉ mô tả nắng thôi mà đã gợi lên trong lòng người đọc bao nhiêu liên tưởng đẹp. Những cây cau mảnh mai vút cao vươn mình đón lấy tia nắng sớm mai trong sạch rét mướt. quang cảnh thân thuộc ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ góc sân khoảng trời nào từ miền quê đất Việt thân yêu. Phép luyến láy: nắng hàng cau nắng mới lên làm cho cái nắng như lan tỏa hơn bừng sáng hơn. Điệp từ “nắng” đã vẽ ra một bức tranh ánh nắng trong không gian nắng lan tới đâu vạn vật bừng sáng tới đó từ trên cao tràn xuống thấp và tràn đầy cả khu vườn, thôn Vĩ như được khoác lên một chiếc áo mới thanh tân, tươi tỉnh.

tới câu thơ thứ ba là cảnh vườn tược được tắm đẫm trong nắng mai ngời sáng lên như một viên ngọc xang diệu kì: “ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.” Câu thơ như một tiếng reo đầy ngỡ ngàng thích thú, không phải xanh non xanh biếc mà là xanh như ngọc. Còn gì trong sáng và cao quý hơn ngọc. Cảnh giản dị mà thanh khiết cao sang vô cùng. Phải chăng sương đêm đã tẩy rửa hết những bụi bặm để khoác lên cây lá tấm áo choàng trong suốt óng ánh khi nắng lên. Chữ “mướt” tác động mạnh mẽ vào giác quan người đọc ấn tượng vẻ mượt mà loáng mướt của khu vườn. Nhưng cái thần của câu thư lại dồn cả vào chữ “ai” chỉ một chữ mà khiến cho cảnh đang sắp gũi bỗng bị đẩy ra xa, hư thực khó nắm bắt. Âm hưởng nhẹ hẫng của tiếng này khiến tương đối thở như thoáng xuôi về một cõi hư ảo mơ hồ. Với Hàn Mặc Tử lúc này, đó là toàn cầu ở ngoài kia, của sự sống ngoài kia chứ không phải toàn cầu của bệnh tật. Và rất tự nhiên theo mạch xúc cảm, nhắc tới “ai” ngay tức khắc thi sĩ nhớ tới hình bóng con người:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Câu thơ kết đoạn là nét dáng điệu hóa rất tài tình của Hàn Mặc Tử nhằm ghi lấy hồn Vĩ Dạ. có nhẽ hình ảnh cành trúc đã trở nên thân thuộc khi nhắc tới con người nơi đây, mảnh đất cố đô văn hiến. Con người như hòa vào, như ẩn vào thiên nhiên một vẻ đẹp kín đáo tao nhã. Đó là vẻ đẹp riêng trong mảnh đất cố đô nhưng ngay trong dòng xúc cảm miên man ấy ta đã thấy nỗi buồn man mác xa nỗi thấm vào lòng người. Nhưng cũng có một điều đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử là vừa có tác động thơ ca dân gian vừa có sản phẩm của lối thơ sáng tạo hay vẽ khuôn mặt sau hàng liễu được viết lên bởi tự ti chia lìa của con người luôn tự nhận mình đứng ngoài cuộc vui.

Phân tích khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh cảnh và người xứ Huế vừa trần thế vừa trong sáng, tinh khôi trong tâm trí Hàn Mặc Tử. từ đó có thể thấy ở Hàn Mặc Tử một tình yêu quê, yêu người tha thiết, và cũng vời vợi nỗi nhớ mong của thi sĩ hướng về cảnh và người thôn Vĩ.

Đọc bài thơ mà khơi gợi trong lòng người tình yêu quê hương, yêu thiên nhiên sâu sắc, yêu con người cảnh vật nơi đây. Từ đó mà dạy chúng ta cách giữ gìn và bảo vệ những thứ xung quanh mình.

Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 5

nếu như nhân loại không còn thèm khát nữa
Và thi sĩ nghề chẳng kẻ nào yêu
Người – Thi sĩ – cuối cùng là Hàn Mặc Tử
Vẫn hiện lên ở đây đợi chờ

(Tràn Ninh Hổ)

Hàn Mặc Tử – thi nhân của những mối tình “khuấy” mãi không thành khối. Tử yêu nhiều nhưng đau xót nhìn thấy rằng: Trăng là người bạn tình và là người bạn tình chung thuỷ cuối cùng của đời mình. Trong đời thơ, đời người quá ngắn, Hàn say mê bốn thiếu nữ (Hoàng Cúc,-Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương). Hoàng Cúc, một thiếu nữ thôn Vĩ Dạ là mối tình đầu của Tử, hai người quen nhau ở Quy Nhơn, Tử là nhân viên Sở Đạc điền, còn cha Hoàng Cúc là chủ sở. Hàn thầm yêu Hoàng Cúc từ năm 1936, nhưng vì rụt rè nên chỉ dám bộc bạch tâm sự cùng thơ và bạn bè… Năm 1939 biết Tử bị mắc bệnh nan y, lại được người khác nhắc nhở, thúc giục Hoàng Cúc gửi tặng thi nhân Hàn Mặc Tử bưu ảnh phong cảnh Huế và mấy dòng hỏi thăm mà không kí tên. Hàn lầm tưởng đó là cảnh “Bến Vĩ Dạ lúc hừng đông hay đêm trăng ?“. Để tạ lòng cố tri, Tử gửi tặng Hoàng Cúc bài Đây thôn Vĩ Dạ. Đọc bài thơ này, người vô tâm mấy cũng không thể không nhớ khổ thơ đầu :

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ phải gắn với mối tình đầu của Tử và Hoàng Cúc. Nhưng lâu nay, bị sợ hãi bởi yếu tố ngoài văn bản tiếng nói – đặc biệt là ý kiến “Hoàng Cúc đã chỉ cho Hàn Mặc Tử một tấm hình cô mặc áo dài trắng trường Đồng Khánh (…), và trách Hàn Mặc Tử sao lâu nay không ra thăm thôn Vĩ Dạ nên nhiều người đã hiểu câu thơ mở đầu bài thơ là lời trách nhẹ nhõm, nhè nhẹ – đúng là giọng hờn dịu ngọt của những cô gái Huế, trách mà cứ như là chào mời khách về thăm thôn Vĩ. Những lời bình ấy xem ra có nhẽ thoát văn bản. Căn cứ vào đâu mà nói: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” là nghi vấn trách móc của một thôn nữ. Hơn nữa, như Hoàng Cúc khẳng định: sau tấm bưu ảnh, không có lời trách móc nào. Làm sao có thể trách người đang từng giờ, từng phút đợi tử thần tới mang đi? Thơ trữ tình là thơ hướng nội. Thơ Hàn Mặc Tử càng là thơ hướng nội. nghi vấn “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” có thể là câu tự văn của chính bản thân Tử. “Anh” ở đây là đại từ nhân xưng được sử dụng ở thứ bực nhất, chứ không phải thứ bực hai. Một nghi vấn mang tính chất giãi bày. Câu thơ thể hiện niềm nuối tiếc. Nhân vật trữ tình đã tự trách mình sao lại không về chơi thôn Vĩ. Dòng thơ đượm buồn, có pha chút hối hận. Cả bài Đây thôn Vĩ Dạ phải chăng là để trả lời nghi vấn đã đặt ra ở câu trước hết của bài thơ (có nhẽ nên đặt dấu chấm hỏi ở vị trí cuối cùng của dòng thơ thứ hai thì hợp lí hơn).

Trước khi tạo nên bài Đây thôn Vĩ Dạ bất hủ này. Hàn Mặc Tử đã có lần đi qua khu vườn nhà Hoàng Cúc ở bến Vĩ Dạ, nhưng chỉ đứng ở cổng mà nhìn vào. Ấn tượng sâu sắc trước hết còn lại trong độc giả khi đọc khổ thơ đầu là cảnh “bến Vĩ Dạ lúc hừng đông”. Qua cảnh này, Tử muốn gửi gắm những tâm sự kín đáo nào đây? Trong muôn vàn cây, lá của Vĩ Dạ, thi sĩ nhắc tới hàng cau tắm nắng rạng đông. Bao đời nay với người Việt Nam, cây cau vẫn gợi mối tình lứa đôi, bằng giải pháp nghệ thuật tăng cấp tiên tiến, thi sĩ đã nhấn mạnh ý “nắng mới lên”, “xanh như ngọc”. Nắng rạng đông (nắng mới lên) đẹp thì đẹp, nhưng qua cái nhìn của thi nhân lãng mạn nó cũng qua nhanh như ”tương đối rượu say” (bởi vậy liền sau cảnh hừng đông là cảnh bến sông đêm trăng buồn tới nao lòng).

“Nắng hàng cau nắng mới lên” đi liền với “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Cũng là vườn mang hương vị ngọt ngào của ca dao, nhưng vườn mà Từ mô tả khác vườn của Nguyễn Bính, ở đây, người ta thấy xuất hiện trong thơ một khu vườn “mướt quá xanh như ngọc’. “Vườn ai” – vườn có một đối tượng có vẻ như phiếm chỉ, nhưng cũng có thể là vườn của người mình thương, vườn tình của cô gái.

Rõ ràng, khu vườn trong thơ Tử không phải là “vườn hồng”, cũng không phải là khu vườn có “bóng hoàng hôn”, mà là vườn xanh như ngọc. Phép so sánh khá mới lạ này khiến cho độc giả có thể nghĩ tới “vườn em” là vườn cành vàng lá ngọc. Vào khu vườn ấy đâu phải dễ dàng. Câu thơ thứ tư nói rõ thêm ý tưởng ấy:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Hình ảnh lá trúc góp phần làm rõ thêm tính quyền quý của khu vườn Vĩ Dạ. Khuôn mặt chữ điền bị lá trúc che ngang lâu nay đã trở thành lời thách đố đối với bao nhiêu bạn yêu thơ. Nhiều người nhất trí khẳng định khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt phúc hậu, hiền lành, trung thực, ca dao Huế đã từng có câu:

Mặt em vuông tựa chữ điền
Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài
Lòng em có đất có trời
Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung

thi sĩ quá cố Chế Lan Viên đã có ý nghi ngờ, khi ông nêu ra nghi vấn “Con gái mặt chữ điền thì đẹp gì đâu mà Hàn Mặc Tử tụng ca”. Gương mặt chữ điền trong câu thơ là gương mặt ai? Một số người nghĩ rằng: Gương mặt ấy chính là gương mặt Hoàng Cúc, người khác lại nghĩ là gương mặt Hàn Mặc Tử. Hình ảnh lá trúc làm phát sinh sự tranh cãi khá gay gắt. Lá trúc thực ở ngoài đời hay lá trúc vẽ trên những bức rèm treo trước cửa những nhà quyền quý? Người ta nói: “văn học tự cổ bằng cử cũng không phải là không có nguyên cớ. Theo thiết nghĩ của người viết bài này thì trung tâm phát sóng của khổ thơ nằm trong chi tiết thẩm mỹ:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền Lá trúc ấy phải ở trong vườn ngọc kia, nó che khuất, che lấp cả sự phúc hậu, hiền lành, trung thực; Phải chăng nó thực sự trở thành trở lực ngăn cách tình người. Nó làm cho “Gió theo lối gió, mây đường máy”; nó tạo nên “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” ; nó kết lại trong một lời trách:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có mặn mòi

Câu kết bài thơ đã trả lời khá đầy đủ lí do “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Chỉ thiên về việc khai thác vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người xứ Huế, có thể người bình thơ sẽ mắc phải sai phép là không hiểu hết thảm kịch tình yêu của Tử. Khi Hàn Mặc Tử viết Đây thôn Vĩ Dạ thì tình cảm của thi nhân với Hoàng Cúc cũng chỉ còn trong quá vãng. (Lúc này Hàn Mặc Tử đã yêu người khác). Hơn nữa, Tử lại đang ở trong tình trạng hoang mang, bi quan tới tột bực khi biết mình bị bệnh nan y. Khổ thơ đầu nói riêng và cả bài “Đây thôn Vĩ Dạ” nói chung do vậy vẫn nằm trong cảm hứng “đau thương” của Hàn Mặc Tử.