Phân tích diễn biến tâm trạng của chàng trai trong bài Tương tư (Dàn ý + 3 mẫu)

Tuy nói tới nỗi nhớ nhung của những cặp trai gái khi yêu, tuy nhiên bài thơ Tương tư của thi sĩ Nguyễn Bính chỉ mô tả mỗi tâm trạng nhớ nhung của chàng trai, luôn trông mong được kế bên người mình yêu.

Dưới đây sẽ là dàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu lớp 11: Phân tích diễn biến tâm trạng của chàng trai trong bài thơ Tương tư. Đây là một tài liệu vô cùng hữu ích tạo điều kiện cho những bạn học sinh có thể củng cố lại tri thức Ngữ văn lớp 11 của mình, sau đây xin mời quý thầy cô và những bạn cùng tham khảo.

Dàn ý phân tích diễn biến tâm trạng của chàng trai

I. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả và bài thơ, tâm trạng của chàng trai qua bài thơ: Có thể nói ông là đại diện cho thể thơ lục bát cổ dân gian mà bài thơ “Tương tư” là một minh chứng tiêu biểu. Bài thơ đã diễn tả tâm trạng tương tư của chàng trai với những diễn biến xúc cảm và tâm lý đa dạng, vô cùng chân tình và bình dị

II. Thân bài:

– Sự nhớ mong, trông ngóng của chàng trai: Giống như bao tâm hồn đã và đang có nỗi tương tư khác, chàng trai quê chất phác cũng khởi đầu nỗi tương tư của mình bằng sự mong nhớ. Tuy nhiên ở đây lại là sự nhớ mong giữa “thôn Đoài” và “thôn Đông”

– Sự trách móc, hờn dỗi của chàng trai: Hai câu thơ đầu nhịn nhường như đang có ý hờn trách nhẹ nhõm, trách sao sắp vậy mà “bên ấy” chẳng sang chơi “bên này”, để cho “bên này” phải chờ đợi khổ sở thế này, sao mà cứ mãi hờ hững

– Sự than vãn, buồn bã, không ăn không ngủ của chàng trai: Chỉ vì nhớ mong, trông ngóng một bóng hình mà đã bao đêm chàng trai thức trắng, có mấy ai hiểu cho con tim đang nồng nàn đó nên chàng trai đành ôm trọn nỗi tương tư vào tận sâu thân tâm của mình

– Ước muốn được se duyên kết tóc cùng người mình yêu: Không còn là sự mong muốn được gặp nhau nữa mà giờ đây chàng trai muốn được kết tóc se duyên cùng người mình yêu

III. Kết bài:

– Ý nghĩa của bài thơ: Bằng những nét rất riêng của hồn thơ Nguyễn Bính, bài thơ “Tương tư” đã thể hiện một cách rất trung thực, bình dị diễn biến tâm trạng của chàng trai tương tư: từ nhớ mong ngay ngáy, tới giận hờn trách móc, và khát khao được gắn kết.

Xem thêm: Top 4+ mẫu Phân tích bài Tương tư của Nguyễn Bính hay nhất

Phân tích diễn biến tâm trạng của chàng trai – Mẫu 1

Nguyễn Bính, một thi sĩ mới luôn tha thiết với những trị giá cựu truyền và tìm về với cội nguồn dân tộc để thổi vào những cung bậc xúc cảm của mình một hồn quê đặm đà, chất phác. nếu như như ở Huy Cận, chúng ta nhận thấy được sự tác động của thể thơ lục bát cổ điển thì Nguyễn Bính lại là đại diện cho thể thơ lục bát dân gian mà bài thơ “Tương tư” là một minh chứng tiêu biểu. Với những ngôn từ giản dị, hình ảnh mộc mạc, bài thơ đã tả được tâm trạng tương tư của chàng trai quê với những cung bậc xúc cảm, những diễn biến tâm lý đa dạng nhưng cũng vô cùng chân tình và bình dị.

“Tương tư”, một xúc cảm, một căn bệnh khó lòng mà tránh khỏi của những người đang yêu, đặc biệt là những buổi đầu, những trong khi tình yêu còn e lệ trên môi, chưa dám tỏ bày. “Tương tư” thường được hiểu là tâm trạng nhớ nhung, ngóng trông của đôi trai gái khi yêu, nhưng trong thực tế, diễn biến tâm trạng này chỉ xảy ra ở một phía mà cụ thể trong bài thơ này, đó là tâm trạng nhớ mong của chàng quê chất phác:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người”.

Cũng như biết bao tâm hồn đã và đang tương tư khác, nỗi tương tư của chàng trai cũng được khởi đầu bằng sự mong nhớ. Nhưng kỳ lạ thay, vì sao ở đây lại là “thôn Đoài nhớ thôn Đông” mà không phải là ai đó nhớ một ai đó? đơn thuần bởi một lẽ, nỗi tương tư ấy đã thấm vào cả cảnh vật và lan tỏa khắp không gian, cũng như đại thi hào Nguyễn Du đã nhận xét: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Việc sử dụng hình ảnh hai thôn để diễn tả thay cho hai cá thể đang yêu của Nguyễn Bính quả tình rất tinh tế, nó có thể hiện được một cái gì đó đặm đà thắm thiết qua tiếng “nhớ” mà cũng có gì đó e lệ, thẹn thùng chưa dám nói ra. Thêm vào đó, điệp từ “một người” được ngăn cách bằng “chín nhớ mười mong” vừa như một nhịp cầu mà cũng vừa như tấm bình phong ngăn trở của mối tình đặm đà buổi sơ khai này vậy. Từ đó, tác giả đi tới một kết luận, một sự đúc kết sâu sắc:

“Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Đối với những ai đã, đang và mong muốn được dấn thân vào biển yêu thương ngọt ngào xen lẫn những khổ đau thì tương tư là căn bệnh không thể nào tránh khỏi. Nó làm cho những tâm hồn yêu đương phải mỏi mệt, dằn vặt nhưng cũng chính vì vậy mà tình yêu trở nên nhiều màu sắc hơn.

Tâm trạng chàng trai quê không ngừng lại ở sự nhớ mong mà từ sự nhớ mong đó, xúc cảm và diễn biến tâm lý của chàng trai được nâng lên một bậc khác đó là sự ngóng trông, đợi chờ, muốn nhìn thấy người mình yêu. Tâm trạng đó được bộc lộ rõ rang qua bốn câu thơ tiếp theo:

“Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

Hai câu đầu cứ như có một ý gì đó tự hỏi mà cũng có một ý gì đó hờn trách nhẹ nhõm. Gấn vậy mà lại, nhưng sao “bên ấy” chẳng sang chơi “bên này”, để cho bên này phải đợi mong mòn mỏi, phải “ra ngẩn vào ngơ”, phải tương tư khổ sở thế này, “Bên ấy” có biết cho “bên này” chăng? Sao cứ còn hờ hững mãi? “Ngày qua ngày lại qua ngày”, thời gian cứ thế trôi kéo theo sự nhớ mong dằng dai trong tâm hồn của “bên này”. Lâu lắm rồi, chờ đợi đã bao ngày rồi, tới nỗi “lá xanh” kia cũng đã “nhuộm” vàng rồi “bên ấy” ā! Đối với những tâm hồn đang yêu đương cháy bỏng thì một ngày hay thậm chí một giờ một khắc không gặp người mình yêu cũng dài như mấy năm vậy. Sự vận động của thời gian được tác giả mô tả bằng điệp ngữ “qua ngày” cùng tự “lại” ở đây đã cụ thể hóa thời gian, diễn tả được bước đi chậm chạp, nặng nề của thời gian dưới cái nhìn của một tâm trạng nóng lòng chờ đợi. không những thế, bằng việc sử dụng hai sắc màu chủ đạo “xanh” và “vàng” cùng động từ “nhuộm” ở đây không chỉ diễn tả được sự vận động trong một quãng đường khá dài của thời gian mà còn cho thấy được tâm trạng héo mòn, khô úa vì đợi chờ của nhân vật trữ tình. Cái tâm trạng mong đợi, nóng lòng, ngay ngáy tới “ra ngẩn vào ngơ” này cũng không hiếm gặp trong ca dao dân ca Việt Nam, ví như câu:

“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt”

Cái trạng thái vô hồn của chủ sở hữu chiếc khăn trong bài ca dao kia cũng tương tư như tâm trạng của chàng trai quê trong “tương tư” vậy. Một tâm trạng ngay ngáy như ngồi trên đống lửa khi một ngày không có em, một ngày không được nhìn thấy em dù chỉ trong một tích tắc.

“Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đành rằng”

Em ơi, nếu như như hai ta phải ngăn cách nhau bởi sông dài, biển rộng, đi lại khó khăn thì đành vậy thôi em ā! Nhưng em ơi đây chỉ cách có “một đầu đình”, “có xa xôi mấy mà tình xa xôi”? Lúc bấy giờ, chúng ta có thể cảm nhận được mộ sự hờn trách nhẹ nhõm, cái lối hờn mát trách yêu của một tâm hồn nhớ mong cháy bỏng. Vì rằng đường xa khó khăn nên em không sang hay cái bụng của em không muốn sang. Phải chăng ở bên thôn Đông ấy em có tìm được một niềm vui nào đó to lớn hơn, tìm được một niềm vui nào đó to lớn hơn, tìm được một niềm hạnh phúc nào đó rét mướt hơn nên em đã quên mất một cây si, cây tương tư đang chờ em ở thôn Đoài mất rồi.

“Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho”

Cũng vì nhớ mong, ôm ấp hình bóng ai kia mà em ơi đã bao đêm anh thức trắng. Nhưng có mấy ai biết cho mối tình đơn phương này, có ai hiểu cho con tim nồng nàn nơi anh nên anh đành phải ôm trọn một mối tương tư tận sâu vào trong trong tâm tưởng. Tâm trạng chàng trai lúc bấy giờ nhịn nhường như có gì đó bối rối và hụt hẫng. Một ngày không gặp thì nhớ mong, hai ngày không gặp thì ngay ngáy, lo lắng, ba ngày không gặp thì hờn mát, trách yêu, rồi nhiều nhiều ngày nữa không gặp thì nỗi tương tư giờ đây đã chuyển sang một cung bậc xúc cảm cao hơn, phức tạp hơn: đó là sự buồn bã, không ăn, không ngủ, biểu hiện của một tâm hồn bị nỗi nhớ mong dày vò, dằn vặt. Biết khi nào đây? Khi nào “bến mới gặp đò”, “hoa khuê những bướm giang hồ gặp nhau”. tới đây, hệ thống những hình ảnh được tác giả sử dụng đã ngày một đa dạng và phong phú hơn cũng như tâm trạng chàng trai đang diễn biến ngày càng phức tạp và đa cung bậc hơn. Điểm lại tâm trạng ấy, ta có thể thấy rõ ràng một sự tăng tiến trong xúc cảm của nhân vật trữ tình: từ nhớ mong tới chờ đợi, ngay ngáy rồi tới hờn trách và tự vấn bản thân để từ đó nâng lên một bậc nữa trong xúc cảm. Cũng là sự mong muốn nhưng đã không còn chỉ là nỗi mong muốn được gặp nhau mà giờ đây, chàng trai muốn được gắn kết, được giao hòa và được kết tóc se duyên cùng người “bên ấy” ở “thôn Đông”.

“Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng”.

Nhắc tới trầu cau, chúng ta nhớ ngay tới cái đám cưới cựu truyền của dân tộc, nhớ ngay tới một sự khăng khít, gắn bó của lứa đôi và nhớ ngay tới sự chung thủy, gắn kết của hai tâm hồn đang hòa nhập làm một. Cách xưng hô của chàng trai ở đây cũng đã thay đổi, không còn là “thôn Đoài”, “thôn Đông” hay “bên ấy”, “bên này”, cũng không còn là “bến” – “đò” hay “hoa” – “bướm” mà đã trở thành “anh” và “em”. Điều đó thể hiện một khát khao gắn kết mãnh liệt, muốn cùng người mình yêu thương sống trọn đời trọn kiếp để tạo nên một cái kết có hậu và đẹp đẽ của mối duyên quê, tình yêu chất phác, đặm đà.

Suốt bài thơ, chúng ta không khó để bắt gặp những hình ảnh đậm chất dân gian, đơn thuần, mộc mạc mà có sức gợi tả, gợi cảm mạnh mẽ. Những hình ảnh ấy luôn song đôi với nhau: “thôn Đoài – thôn Đông”, “bến – đò”, “hoa – bướm”, “trầu – cau”,… và ngày càng tăng tiến trong việc thể hiện sự giao hòa, gắn kết với nhau thích hợp với việc mô tả tâm trạng tương tư diễn biến phức tạp của chàng trai. Cũng qua những hình ảnh đó mà phong cách thơ của Nguyễn Bính cũng được bộc lộ và làm rõ, một phong cách thơ đậm “hồn quê” và thiết tha với những trị giá cựu truyền của dân tộc đang dần dần mai một lúc bấy giờ. Đọc “Tương tư”, chúng ta như đọc một bài ca dao dài vậy, cũng những hình ảnh quá đỗi bình dị và thân quen, cùng lối viết giản dị và mộc mạc, cũng thể lục bát dân gian cô đọng mà giàu sức gợi tả. Tất cả hòa quyện vào nhau tạo nên một hồn thơ, một phong cách thơ rất Nguyễn Bính.

“Tương tư”, một thi phẩm xuất sắc có sức phổ cập vô cùng lớn trong nhân dân. Bằng nét chung rất riêng và cũng là nét riêng rất chung của ngòi bút Nguyễn Bính, bài thơ đã thể hiện một cách trung thực, bình dị diễn biến của một tâm trạng tương tư: nhớ mong, ngay ngáy, hờn giận, trách móc và khát khao giao hòa gắn kết. Từ đó bài thơ đã nâng lên, trở thành tinh hoa của văn học dân gian, thể hiện cái đẹp đẽ, đáng yêu của mối tình quê thắm thiết, bình dị.

Xem thêm: Top 20+ mẫu phân tích bài thương vợ hay nhất

Phân tích diễn biến tâm trạng của chàng trai – Mẫu 2

Theo như Hoài Thanh, trong tâm hồn mỗi con người luôn có một cái chất nhà quê mộc mạc tiềm tàng, bởi suốt mấy nghìn năm qua nhân dân ta đã quen với cuộc sống lao động chân tay, đồng áng và mới chỉ văn minh được độ vài chục năm lại sắp đây nhất. Phần đa con người thường cố đựng cái khí chất “quê mùa” ấy cho thật kỹ, nhưng lại có một thi sĩ đi trái lại với lối ấy là Nguyễn Bính, thơ của ông luôn tìm về những trị giá chân quê, luôn khơi gợi cái chất “người thân quê” trong tiềm thức mỗi con người. Từ hình ảnh những thôn làng đơn sơ, những buồng cau, bụi chuối, tình cảm trai gái,… giọng thơ mộc mạc, có phong vị của những câu hát ca dao, mà Hoài thanh gọi là “hồn xưa của quốc gia”. Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất cho phong cách mộc mạc, “chân quê” của Nguyễn Bính phải kể tới bài thơ Tương tư, với nội dung ấy là tình yêu đơn phương của chàng trai thôn Đoài với cô gái thôn Đông.

Cái nỗi khổ tương tư của chàng trai trong bài thơ không đơn thuần chỉ là xúc cảm nhớ nhung, tơ tưởng mà là một hỗn hợp những xúc cảm đan xen chồng chéo, chuyển đổi qua lại lẫn nhau, từ loại xúc cảm này lại sinh ra xúc cảm kia, thật phong phú trung thực đúng với tâm lý phức tạp của tình yêu.

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh, của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”

Với mấy câu thơ đầu, xúc cảm đơn thuần chỉ là sự nhớ mong, bay bổng của người con trai dành cho cô gái mà mình yêu thương. Cái xúc cảm nhớ mong ấy được phóng đại đưa thành thôn Đoài nhớ thôn Đông, rõ ràng là thành cả hai không gian rộng lớn đang thương nhớ nhau, thật ứng với câu “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” của Nguyễn Du, nhưng trường hợp này thìa là nhớ chứ không phải buồn. Nói tóm lại cái sự nhớ mong của chàng trai nhịn nhường như chẳng ngừng lại ở trong trái tim mà còn lây lan sang cả cảnh vật, cả không gian. Nỗi tương tư còn thành vần thành điệu như ca dao “chín nhớ mười mong”, giăng mắc và có xu thế kéo dài cái nỗi nhớ mong ấy ra. Rồi thì chàng trai chân quê, chất phác ấy cố lý giải cho cái nỗi nhớ của mình, rằng “Gió mưa là bệnh, của giời/Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” thật hồn nhiên và có chút ngông cuồng, dám lấy mình so với trời, để diễn giải cho “căn bệnh” tương tư của mình.

“Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”

Ôi chao, rồi nhớ nhung mong mỏi chán chê, chàng trai lại đâm ra băn khoăn, hờn giận vu vơ, chàng ta bảo rõ ràng chung làng đó, cớ sao nàng chẳng bao giờ ghé chơi. Lúc này đây người ta mới ngộ ra, kỳ lạ thật vốn dĩ thân là đàn ông thì phải chủ động ghé thăm cớ sao lại chỉ ngồi yên một chỗ để nhớ mong, rồi lại còn đâm ra hờn trách cả cô gái. Đó là cái lý, nhưng trong thi văn để bộc lộ được hết cái nỗi tương tư sầu muộn thì vị thế tiêu cực của chàng trai là thích hợp hơn cả.

“Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

Chán chê cái cảnh đợi chờ hờn hỗi, chàng trai lại khởi đầu chuyển qua trạng thái than vãn, ỉ ôi. Sự dịch chuyển thời gian từ ngày này qua ngày khác, mùa này qua mùa khác, mùa xuân lá xanh nay đã thành mùa thu lá vàng, càng thêm diễn tả cho cái sự đợi chờ, tương tư mòn mỏi của chàng trai. có nhẽ chàng trai ấy đã mong mỏi việc cô gái hiểu thấu cho tình cảm của mình nhiều lắm, nên mới đếm cả bước đi của thời gian tương tự.

“Bảo rằng cách trở đò ngang
Không sang là chẳng đường sang đành rằng
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?”

Nỗi khổ tương tư nếu như ai có từng trải rồi mới hiểu thấu, mà day dứt khó chịu hơn cả lại là mối tình đơn phương giấu kín, một người ấp ủ một người thờ ơ. Thương càng nhiều càng thấy lòng trĩu nặng, muốn tỏ thì khó mà không tỏ thì cũng khó, lại cứ ngẫm người kia chẳng biết tâm tình thế nào liệu đã đặt ai trong lòng hay chưa, có hay biết tình cảm này không,… càng khiến lòng người thêm bức bối. Thế nên bức bối khó chịu nhiều quá, chàng trai trút hết thành nỗi oán trách, quy kết, đúng kiểu “chạy trời không khỏi nắng”, kiểu gì cũng vặn lại cho được.

Chàng tuy chất phác, chân quê nhưng “khoản lý” sự cũng chẳng kém ai bao giờ, và dĩ nhiên khoản lý sự này thì chỉ chàng biết mà thôi. Chàng bảo chứ thà như cách sông, cách đò là chuyện khó, còn đâu hơn nhau có cái đầu đình vậy mà nàng cũng chẳng buồn ngó, không trách nàng thì trách ai? Rồi chàng lại quay về giãi bày cái nỗi tương tư rằng “Tương tư thức mấy đêm rồi/ Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?” Rõ ràng tương tư là một mối lặp luẩn quẩn không hồi kết, nếu như như người trong cuộc không tự mình khai phá nó. Chàng trai kể ra cũng nhiều phần đáng thương hơn cả, đáng thương vì cái nỗi tương tư nhút nhát e sợ của mình.

Tuy thường rằng mấy khi mối tình đơn phương thành song phương, nhưng chàng trai vẫn rất có niềm tin vào tương lai và tình yêu của mình, điều ấy thể hiện thành nỗi mộng ước, khát khao được họp mặt.

“Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê những bướm giang hồ gặp nhau”

Dù “bao giờ” là bao giờ thì chẳng biết nhưng chàng trai vẫn luôn trong một tâm thế nôn nao, chờ đợi, thậm chí là hồi hộp bởi đầu óc mãi vẩn vơ nghĩ về cảnh cùng nàng tương phùng, đôi bên tình cảm giao hòa, nàng cũng sẽ hiểu được tình cảm của ta.

“Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Và một lẽ dĩ nhiên cái nôn nao, mơ tưởng họp mặt sẽ dễ dàng bắc cầu tới cái ước vọng xa xôi, mà chàng trai hằng đinh ninh, ngỡ tưởng là đã chắc như đinh đóng cột, ước định trầu-cau. Nàng trầu đã sẵn, anh thì cau cũng trưởng thành, chỉ đợi ngày cùng lên mâm quả, mọi sự nhịn nhường như đã sẵn sàng. Cái ước định hàm ý chàng nói là thế, nhưng phút cuối chàng lại ngỏ một câu thật lạ thường “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”, ôi thế nãy giờ rốt cuộc không phải nhớ giầu không thôn Đông ư? Thực ra xét lại, có nhẽ đó là mối lo sợ ngầm của chàng trai, sợ mối tình đơn phương ấy không thành, thì cau của chàng có nhẽ phải gửi gắm cùng trầu của nơi khác. Thật là một mối tình đơn phương đầy xúc cảm, cũng thật thương cho chàng trai ấp ủ nó suốt lâu nay mà chưa dám tỏ.

Nhiều lúc đọc bài thơ tôi còn cứ trách chàng trai mãi, giá anh cứ tỏ tình đi rồi tới đâu thì tới, nhưng ngẫm lại anh chàng mà không tương tư tới độ vậy thì lấy đâu ra bài thơ như Tương tư nhỉ. u tất cả cũng chỉ là khát khao hạnh phúc lứa đôi xuất phát từ bản năng của mỗi con người, ai cũng muốn yêu và được yêu, chẳng phân biệt nữ giới hay đàn ông. nhịn nhường như trong tình yêu việc trải qua những xúc cảm nhớ mong, hờn dỗi, mộng ước thành đôi đã trở thành lẽ đương nhiên và với người yêu đơn phương thì lại càng mạnh mẽ và nhiều khốn khổ hơn cả, bởi chỉ có một người, giống như đũa chỉ có một chiếc vậy chẳng ích gì. Một điều rất thú vị rằng quan niệm về tình yêu lứa đôi của Nguyễn Bính luôn gắn liền với hôn nhân, gia đình chứ không đơn thuần chỉ là yêu, đó cũng chính là cái chất chân quê, truyền thống rất riêng của tác giả trong hệ thống thơ mới giai đoạn 1932-1941.

Phân tích diễn biến tâm trạng của chàng trai – Mẫu 3

Bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính đã đề cập tới một dạng thức sống động nhất của tình yêu, đó chính là tương tư. Đó là tâm trạng của một tâm hồn đang nhớ của một trái tim đang yêu, chàng trai trong bài thơ không chỉ có nỗi nhớ mong mà thêm vào đó là cả sự hờn giận, trách móc vô cùng nhẹ nhõm, đó chính là khi trong con người chàng trai ấy đã mắc phải “căn bệnh” tương tư.

Mở đầu bài thơ, cũng như là tín hiệu trước hết của căn bệnh tương tư chính là sự nhớ mong, chàng trai quê chất phác với tình yêu chớm nở còn e lệ, mang trong mình nỗi nhớ nhung da diết, khắc khoải:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người”

Tác giả đã sử dụng hình ảnh của hai thôn để biểu thị cho hai cá thể, hình ảnh đó thật tinh tế, bởi nó đã phần nào cho thấy nỗi nhớ mong của chàng trai đã mênh mang, lan tỏa vào trong không gian, cảnh vật của làng quê nơi anh đang sinh sống. Giống như thi sĩ Nguyễn Du đã từng nhận xét “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, khi con người ta nhớ mong, nhịn nhường như mọi cảnh vật cũng theo đó mà mang nỗi nhớ nhung. Tuy là “thôn Đoài” nhớ “thôn Đông” nhưng thực ra là người ở thôn Đoài nhớ người ở thôn Đông, cụ thể hơn chính là chàng trai ở thôn Đoài nhớ người con gái ở thôn Đông, nhớ nhung rất nhiều. Tác giả sử dụng trực tiếp từ “nhớ” để diễn tả nỗi nhớ, tuy nhiên nỗi nhớ ấy lại chịu sự ngăn cách của “chín nhớ mười mong”, sự nhớ mong vừa là cầu nối lại vừa là bức ngăn cách để chàng trai tìm tới người con gái mình yêu. Số đếm trong nỗi nhớ còn có tác dụng làm cho nỗi nhớ ngày càng tăng lên gấp bội. Nỗi nhớ da diết của chàng trai khiến cho tác giả phải nhắc tới căn bệnh tương tư:

“Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Căn bệnh tương tư sẽ chẳng chừa một ai khi họ đã và đang muốn dấn thân vào thứ tình yêu thương ngọt ngào xen lẫn khổ đau. Nỗi tương tư làm cho con người ta mỏi mệt, dằn vặt nhưng chính nó là gia vị và màu sắc của tình yêu. Chàng trai quê thiệt thà chất phác ấy đã không ngại mà nói về căn bệnh của mình, gió mưa là quy luật tự nhiên của trời đất, người con trai yêu nhưng không được người con gái đáp lại nên đành tương tư. Thế rồi từ nỗi nhớ mong lâu ngày, chàng trai muốn được nhìn thấy người mình yêu, anh trông ngóng chờ đợi nhưng không thấy, chàng trai bỗng nhiên buông lời trách móc nhẹ nhõm:

“Hai thôn chung lại một làng…
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

Chàng trai hờn trách rằng hai thôn sắp nhau, chẳng xa vắng đáng là bao, chẳng cách trở đò ngang, sông dài mà chỉ “cách một đầu đình” mà bên ấy lại để cho bên này chờ đợi trong mòn mỏi, phải tương tư khổ sở tới thế. Phải chăng không phải ngại đường xá khó khăn mà em không sang mà là do em không muốn sang. Đã chờ đợi lâu thế rồi mà “bên ấy” chẳng chịu sang chơi “bên này”, càng chờ càng thấy vắng bóng, chàng trai càng băn khoăn. Đối với một tâm hồn đang yêu cháy bỏng mà nói, sự chờ đợi được nhân lên rất nhiều lần, dù là một ngày hay chỉ một giờ không được gặp người mình yêu cũng dài như mấy năm vậy. Sự chờ đợi của chàng trai đã trải dài theo thời gian “Ngày qua ngày lại qua ngày”, mong chờ dài đặng tới nỗi vạn vật thay đổi, lá xanh đã thành lá vàng. Màu sắc từ xanh chuyển vàng còn thể hiện sự chờ đợi của chàng trai trong héo mòn, khô úa. Sự chờ đợi tới tương tự, chàng trai làm sao tránh khỏi sự hờn trách, trách móc trong tình yêu.

Có thể thấy, chàng trai tương tư của Nguyễn Bính càng yêu thương thì lại càng nhớ mong, trông ngóng, mà càng nhớ lại càng chờ đợi sự phúc đáp, đáp lại tình cảm, thế nhưng càng chờ anh lại càng trách móc sự hững hờ của người con gái mình yêu. Tâm trạng nhớ mong và trách móc của chàng trai đã thể hiện cái đẹp đẽ, đáng yêu của mối tình quê thắm thiết, bình dị.