Top 13+ bài Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử tổng hợp 13 bài văn mẫu siêu hay kèm theo gợi ý cách viết chi tiết nhất. Với 13 bài văn phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ mà GrabHanoi giới thiệu sẽ giúp những bạn tự tin không phải lo nghĩ quá nhiều về việc làm sao để viết được bài văn hay, ấn tượng nhất.

Khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ là sự hoài niệm của tác giả về nơi từng gắn bó với mình – dòng sông Hương và tâm trạng lo lắng, phấp phỏng khi đợi chờ tri kỉ, tri kỷ. Đây có nhẽ là khổ thơ hay thể hiện tâm trạng của tác giả trong chặng đường chờ đợi sự tri kỉ, sẻ chia. Để hiểu rõ hơn về khổ thơ này, mời những bạn lớp 11 cùng theo dõi 13 bài phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ trong bài viết dưới đây nhé.

Dàn ý phân tích khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Dàn ý số 1

I. Mở bài:

– Dẫn dắt và giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Giới thiệu khổ hai

II. Thân bài:

– Khổ hai là bức tranh sông nước nhuốm màu tâm trạng

– Mây gió: ngược chiều , trái tự nhiên, chia cắt đôi ngả

– Dòng nước: nhân hóa ” buồn thiu”

– Dòng sông không còn là sự vật vô tri vô giác

– Sự chảy trôi buồn một nỗi buồn ly tán

– Hoa bắp lay: gợi buồn

– Thuyền và sông trăng: hình ảnh ảo, khó phân định vừa mơ vừa thực

– Trăng: chứa đựng vẻ đẹp tác giả luôn muốn gửi gắm

– Dòng sông trăng: trăng tan vào nước để trôi chảy từ vũ trụ về nơi xa.

– “kịp” không chỉ là khát khao mong đợi mà còn âu lo

III. Kết bài:

– Tóm tắt nội dung khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ và nêu lên trị giá, những đóng góp của khổ 2 với cả bài thơ.

Xem thêm: Top 16+ mẫu Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất

Dàn ý số 2

I. Mở bài: giới thiệu khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Ví dụ:

Hàn Mặc tử là một thi sĩ tài hoa nhưng không được may mắn trong cuộc sống. khi ra đi ông để lại một kho tàn văn thơ vô cùng to lớn. những tác phẩm nổi tiếng của Hàn Mặc Tử như âm nhạc, lặng lẽ, anh điên, bài cửa sổ đêm khuya,… một tác phẩm nổi tiếng nhất của Hàn Mạc Tử đó là bài Đây thôn Vĩ Dạ. bài thơ nói về cảnh nơi thôn Vĩ, nơi có người ông thương. Cảnh đẹp nơi thôn Vĩ được thể hiện rõ nhất qua khổ 2 của bài thơ. Chúng ta cùng đi phân tích khổ 2 của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

Xem thêm: Top 20+ mẫu phân tích thương vợ ngắn gọn hay nhất 

II. Thân bài: phân tích khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Câu 1: Gió theo lối gió, mây đường mây

  • Không gian ở câu này được mở rộng hơn so với đoạn 1: mây, gió
  • Cảm nhận được sự chia ly, xa rời qua câu thơ
  • Tâm trạng buồn man mác: gió và mây không thể tách rời nhưng nhường nhịn như không thể cùng nhau

Câu 2: Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

  • Mọi cảnh vật như chất chứa tâm trạng
  • Dòng sông như bất động, không muốn chảy, thể hiện tâm trạng buồn
  • Từ “buồn thiu” như nói lên tâm trạng rõ hơn
  • Hoa bắp, sự níu giữ nhưng nhẹ nhõm, không thể

Câu 3: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

  • Sự xa vời
  • Không gian tràn ngập ánh trăng, hư hư ảo ảo
  • Trăng là một hình ảnh thân thuộc, thể hiện cho tình cảm, yêu thương

Câu 4: Có chở trăng về kịp tối nay?

  • quang cảnh nơi Huế thơ mộng
  • nghi vấn thể hiện nên ước mong, nguyện vọng của tác giả

III. Kết bài: nêu cảm nhận của em về khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Ví dụ:

Khổ 2 bài thơ Đây thôn vĩ Dạ thể hiện cảnh đẹp mộng mơ, huyền ảo của thôn Vĩ, đồng thời thể hiện tâm trạng buồn bã của thi sĩ.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 1

Ai đó đã từng nói “Thơ là tiếng lòng. Đọc thơ, ta nghe thấy tiếng nói chứa lên từ sâu thẳm trái tim của thi sĩ. Thơ là sự lên tiếng về thân phận. tới với bài thơ, ta cảm được tình cảnh, tình thế số phận của thi sĩ”. Và “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử là một bài thơ như thế. Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, ta thấy được một trong những nét độc đáo làm nên phong cách thơ rất lạ của ông, đó là mạch thơ đứt đoạn mà thống nhất, tức là mẫu mã kết cấu như rời rạc nhưng lại có sự thống nhất trong chiều sâu của mạch xúc cảm. nếu như khổ thơ đầu là sự bừng sáng kí ức của hoài niệm về vườn Vĩ Dạ lúc hửng đông thì khổ thơ thứ hai lại cảnh xứ Huế đêm trăng thơ mộng cùng bao nỗi niềm chia lìa, lạc loài trơ khấc, buồn thương vô vọng:

Gió theo lối phong vân đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Chỉ bằng vài nét chấm phá tinh tế, gợi cảm Hàn Mặc Tử đã gợi dậy một cách thần tình cả vong linh của xứ Huế đêm trăng thơ mộng, huyền ảo. Ở phương diện tả cảnh, mới đọc câu thơ “Gió theo lối phong vân đường mây” cứ tưởng là phi lý nhưng ngẫm kĩ đó lại là sản phẩm của ngòi bút xuất thần. Hàn Mặc Tử đã gợi tả tinh tế, chuẩn xác tài hoa vẻ êm dịu của mây trời xứ Huế. Êm dịu tới mức ta thấy gió thổi mà như mây đứng yên. Hai chữ “buồn thiu” gợi tả vẻ sử dụng dằng, lặng lờ của dòng nước sông Hương. Nói như Hoàng Phủ Ngọc Tường thì dòng nước sông Hương cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Sông Hương chảy chậm, thực chậm, đó là điệu slow tình cảm mà dòng sông Hương dành cho xứ Huế. Trong đêm trăng Hương giang thật huyền ảo ấy, bầu trời trong veo, trăng vằng vặc dải ánh vàng trên sông. Dòng nước bỗng hóa thành dòng sông trăng, những con thuyền gối bãi ăm ắp đầy trăng. Hàn Mặc Tử vốn say trăng, yêu trăng là vậy. Bài thơ nào của ông cũng có đôi câu về trăng. Đọc “Đây thôn Vĩ Dạ”, dễ thấy đây là những vần thơ dịu êm và huyền ảo nhất trong dòng thơ trăng của thi sĩ.

Bị thế cục tuyệt tình từ chối, thơ ca thiên nhiên là nơi Hàn Mặc Tử chút bầu tâm sự, giãi bày lòng mình. Ngoại cảnh nhường nhịn như chỉ là cái cơ để thi sĩ giãi tỏ tâm sự, trải niềm đau của hồn mình, bức tranh “Đây thôn Vĩ Dạ” cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Ngay ở trong câu thơ trước hết của khổ thơ thứ hai, ta đã thấy được sự chia lìa, ngang trái:

“Gió theo lối phong vân đường mây” ,phong vân luôn đi đôi với nhau, sóng đôi cùng nhau, vậy mà ở đây lại chia lìa xa rời, gió một đằng, mây một nẻo. vì sao vậy? Có phải chăng trái tim thi sĩ luôn trĩu nặng chia lìa, thành ra nhìn đâu cũng thấy chia ly cách biệt. Không chỉ phong vân chia lìa, sông nước hắt hiu, dòng nước buồn thiu hoa bắp lay. Dòng sông ôm lấy nỗi buồn ngậm ngùi câm lặng, rười rượi. Dòng sông vốn ủ sẵn mối sầu hay sự chia lìa, ly tán của phong vân đã gieo vào lòng sông chết lặng? Hay mối sầu thăm thẳm trong lòng của thi sĩ đã ám bào dòng sông? Khó có thể lý giải một cách rõ ràng được. Chỉ thấy đọc câu thơ lên, lòng ta bỗng trào dâng một nỗi niềm bâng khuâng mà da diết, khắc khoải mà khôn nguôi. Phụ họa với dòng nước buồn thiu là bông hoa bắp xám bạc khẽ lay trong gió. Động từ “lay” tự nó vốn không vui, không buồn như trong câu thơ này, không hiểu sao nó lại ẩn chứa nỗi niềm hiu hắt tới vậy. Có phải chữ “lay” ấy đã mang theo nỗi buồn trong câu ca dao:

Ai về Rồng Dứa, ao Chuông
Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em

Trong không gian nghệ thuật, hình ảnh hoa bắp lay thật tủi sầu. Tất cả nhường nhịn như đang bỏ nơi này mà đi. Gió bay đi, mây bay đi, dòng nước cũng trôi xuôi, chỉ còn bông hoa bắp đơn chiếc, cui cút, vật vờ trên triền sông hoang vắng. Động thái “lay” như một sự níu giữ vu vơ, một lưu luyến vô vọng. Hình ảnh hoa bắp “lay” cứ như hiện thân cho thân phận lạc loài, bơ cơ, bị thế cục quên lãng của thi sĩ.

Đối mặt với xu thế tất cả đang bỏ đi, rời xa mình, thi sĩ chợt ước ao có một thứ gì đó ngược dòng trôi chảy trở về với mình, gắn bó với mình. Với Hàn Mặc Tử, đó là trăng, và cũng chỉ có chăng mà thôi:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

vì sao Hàn Mặc Tử lại trông ngóng ước ao, thèm khát có trăng tương tự? Phải chăng bị chôn vùi trong lãnh cung chia lìa, mù tối, “không có niềm trăng và tiếng nhạc” nên thi sĩ ước ao có trăng như thế? Hơn thế, với Hàn Mặc Tử, chí có trăng sao là bất tử. Đặc biệt, với thi sĩ, trăng không chỉ đơn thuần là nguồn sáng, huyền ảo, diệu kì nhất của thiên nhiên mà trăng là biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, tràn ngập hạnh phúc mà thi sĩ thèm khát. Với những ý nghĩ như thế, giờ đây, “trăng là bám víu duy nhất”, là tri ân, tri kỷ, là phúc tinh với Hàn Mặc Tử. Giọng điệu, chữ nghĩa trong câu thơ bật lên niềm khát khao, da diết, khắc khoải tới cháy bỏng. Câu thơ mang vóc dáng của một lời khẩn cầu, khẩn nguyện tha thiết. Nhưng thật xót xa, thảm kịch thay cho thi sĩ, ngay trong lời khẩn cầu da diết tới cháy bỏng ấy, ta thấy hằn lên một nỗi lo lắng hoài, vô vọng, tới đớn đau. Nỗi niềm ấy ghim chặt vào mấy chữ “kịp tối nay”. thời cơ đón trăng, đắm mình trong trăng thật ngắn ngủi mỏng mảnh biết chừng nào.

Chỉ còn đêm nay thôi, sáng mai đã là một dấu chấm hết. Lưỡi hái tử thần đang kể tận cổ, chuông nguyện hồn ai đã dóng lên. thời cơ mỏng mảnh, thời gian ngắn ngủi là vậy mà bến sông trăng cứ ở mãi ngoài kia xa vời vợi. Không sử dụng phương thức cầu khiến, câu thơ là lời hỏi hoài nghi đầy vô vọng. có nhẽ khi chứa lên lời khẩn cầu tha thiết, thi sĩ đã có lời tư vấn cho mình. Chẳng bao giờ con thuyền chở trăng về kịp tối nay cho thi sĩ. Thi sĩ sẽ mãi rời xa cõi đời này trong đớn đau, vô vọng. Đọc những vần thơ này, ta cảm thấy quặn lòng đớn đau. Vọng về đâu đây dự cảm xót xa:

rồi đây kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Chẳng tìm thấy nàng tiên mô tới khóc
tới thương anh và rửa vết thương tâm.

Với văn pháp gợi tả, hình ảnh tinh tế, “Đây thôn Vĩ Dạ” là một miền quê hương quốc gia, Vĩ Dạ-xứ Huế mộng và thơ. Bài thơ còn là tiếng lòng uẩn khúc của một trái tim yêu người, yêu đời, thiết tha, mãnh liệt trong vô vọng. “Đây thôn Vĩ Dạ” xứng đáng là tuyệt bút thơ Hàn, một viên ngọc chói lọi nghìn năm.

Phân tích khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 2

“Vĩ Dạ thôn! Vĩ Dạ thôn
Biết che cành trúc không buồn mà say?”

Vẻ đẹp của thôn Vĩ qua những câu thơ ấy của Bích Khê đầy ấn tượng. Vĩ Dạ đẹp, Vĩ Dạ buồn, Vĩ Dạ đắm say lòng người ngoạn cảnh đã cuốn hút biết bao người đắm chìm trong đó để rồi có một người cho ta một bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đặc sắc – Hàn Mặc Tử.

Vĩ Dạ đẹp với những khu vườn xanh tốt, mượt mà dưới ánh rạng đông, với những con người dịu hiền, phúc hậu thấp thoáng sau cành tre lá trúc thanh tao. Vĩ Dạ dịu dàng thơ mộng với dòng sông hiền hoà:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Cặp câu thơ đầu bằng giải pháp mô tả có sức gợi sâu sắc hình ảnh mây gió vần vũ. Câu thơ cho ta nhiều cách hiểu khác nhau. Có người nghĩ rằng, thông thường thì gió và mây là những sự vật gắn kết với nhau, luôn đi liền nhau, bởi vậy giờ đây, khi “gió theo lối phong vân đường mây” tức là tất cả đang ở trong thế của sự chia lìa, tan tác. Điều này thích hợp với tâm trạng của tác giả. Nhưng đối với thiên nhiên, khi gió to thì mây vần vũ, lúc bấy giờ, gió mới thổi mây bay đi. Còn ở đây, trong Vĩ Dạ của xứ Huế, tất cả đều mang một vẻ đẹp nhẹ nhõm và thơ mộng. Nơi đây, mây cứ lững lờ bay ở bên trên còn gió thì hiu hiu thổi, gợi lên cái gì đó buồn bã, thích hợp với tâm trạng của chính tác giả.

Mọi sự xuất hiện của cảnh vật đều gợi cảm giác buồn. Cả dòng nước trôi cũng không nằm ngoài âm hưởng chung ấy: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”. Dòng nước thâm cái buồn của ngoại cảnh hay ấy chính là cái “buồn thiu” của tâm trạng đang lan tỏa và bao trùm lên ngoại giới. Bên bờ sóng, những bông hoa kia nhữ cũng thấm nỗi buồn của cảnh vật nên cũng chỉ khẽ khàng lay động. Ta cũng đã từng bắt gặp hình ảnh hoa bắp lay đó ở nhiều câu thơ nhưng dù ở đâu thì nó cũng thật buồn. Là những câu thơ của Huy Thông:

“Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió, người không thấy về”

Hay đó là nỗi buồn trước cảnh hoa lay lan toả trong lòng người đọc:

“Ai về Giồng Dứa qua truông
Gió lay bông sậy, bỏ buồn cho ai”

Dù là nỗi buồn của cảnh chia li, nỗi buồn của nỗi trông chờ mòn mỏi nhưng cảnh bờ sông và những cây bắp, lau bên bờ sông đều mang lại cho người ta cảm giác buồn. Dòng sông và cây hoa bắp lay của Hàn Mặc Tử cũng vậy, đẹp một vẻ đẹp buồn nhẹ nhõm và thơ mộng. Thiên nhiên đẹp nhưng cũng thật lạnh lẽo, nhường nhịn như nó phảng phất tâm trạng u buồn, đơn chiếc của thi sĩ trước sự xa rời, thờ ơ của thế cục đối với mình.

Trong quang cảnh sông nước nên thơ, thời gian chuyển biến linh hoạt. Thoắt cái, cảnh vật đã chuyển sang một buổi đêm trăng huyền ảo:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Hai câu thơ sau cho thấy tâm hồn thi sĩ có buồn và đơn chiếc nhưng vẫn chứa chan tình yêu đối với con người và thiên nhiên xứ Huế. Đây là cảnh thực mà cứ như ảo vì dòng sông không còn là dòng sông của sóng nước nữa mà là dòng sông ánh sáng, nhóng nhánh ánh trăng vàng, hay đó là dòng ánh sáng tuôn chảy khắp vũ trụ làm không gian nghệ thuật thêm hư ảo, mênh mang. Cũng vì vậy, con thuyền vốn có thực trên dòng sông đã trở thành một hình ảnh của mộng tưởng, nó đậu trên bến sông trăng để chở trăng về một bến nào đó trong mơ. Là thuyền ai? Thuyền của người thôn Vĩ hay con thuyền của chính tác giả? Cũng không rõ nữa, chỉ biết rằng con thuyền ấy chở đầy trăng. Bằng ngòi bút liên tưởng và trí tưởng tượng phong phú, Hàn Mặc Tử đã phác hoạ được nét đẹp nhất của sông Hương là vẻ huyền ảo thơ mộng dưới ánh trăng. tới câu thơ cuối, con thuyền, dòng sông, ánh trăng trong sự hồi ức quá khứ ấy lại gắn với cảm tưởng của thi sĩ trong hiện tại, bởi thi sĩ mong muốn con thuyền chở trăng về kịp tối nay chứ không phải là một tối nào khác? Con thuyền trở thành con thuyền nhỏ trên mình người du khách đặc biệt, liệu có kịp cập một bến thời gian nào đó tôi nay? Phải chăng cái “tối nay” đó là một tối thật buồn và đơn chiếc, thi sĩ đang có những tâm sự mà chỉ có trăng mới có thể hiểu được? Điều đó cho thấy Hàn Mặc Tử rất yêu trăng, rất yêu xứ Huế, yêu cảnh vật và con người nơi đây nhưng nhường nhịn như cảnh Huế, người Huế không hiểu được, không đáp lại tình yêu ấy nên thi sĩ tìm tới vầng trăng như một người để trút bầu tâm sự cho vơi đi cảm giác lẻ loi, đơn chiếc và những tự ti bệnh tật.

Cả bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một tác phẩm nghệ thuật để lại cho người đọc nhiều suy tư. Bằng những giải pháp tu từ và cặp mắt quan sát, cảm nhận tinh tế của mình, Hàn Mặc Tử đã tiếp tục vẽ những nét vẽ khắc họa rõ hơn về thôn Vĩ trong khổ thơ thứ hai. Với sông Hương, dòng nước trôi hờ hững, với mây bồng bềnh, con thuyền, ánh trăng và đặc biệt là một tấm lòng yêu thiên nhiên, khát khao, khắc khoải trong khát vọng tình đời, tình người, thi sĩ sẽ khiến cho người ta còn mãi vương vấn về một Vĩ Dạ của xứ Huế mộng mơ, nơi có một cặp mắt đau đáu hướng về

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 3

Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt đặc sắc của phong trào Thơ mới. Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng nói của một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu cảnh vật, yêu con người nồng nàn, tha thiết. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là bài mang một tình yêu, khát khao cuộc sống tương tự. Khổ thơ thứ hai của bài thơ mang tới một hoài niệm và tâm trạng lo lắng của thi sĩ.

Mở đầu bài thơ, người đọc đã cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn người thi sĩ. Ta thấy thi sĩ tuy phải sống thế cục đầy thảm kịch nhưng vẫn khát khao được sống và yêu đời tha thiết.

Khổ thơ thứ hai được mở ra, khiến người đọc cảm nhận được hoài niệm về cảnh sông nước đêm trăng, hòa theo đó là tâm trạng lo lắng, phấp phỏng của thi sĩ. Cảnh sông nước đêm trăng được gợi ra:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Dòng sông có rất nhiều cách hiểu, nhưng dù hiểu theo cách nào thì vẫn gợi ý thức về sông Hương-vong linh của Huế. Cảnh vật được mô tả rất nhẹ nhõm, yên ả, gợi đặc điểm riêng của Huế: gió khẽ lay, mây khẽ bay, hoa bắp khẽ đung đưa, đi lại rất nhẹ nhõm, yên ả, gợi không gian rất yên bình, rất Huế. Cảnh vật đượm buồn: buồn thiu, buồn sâu lắng, buồn nhuốm vào không gian, cảnh vật, thường là nỗi buồn từ toàn cầu bên ngoài tác động. Câu thơ như dài ra, căng ra, khiến nỗi buồn như dằng dặc. Tác giả đã sử dụng giải pháp nghệ thuật “nhân hóa”, dòng sông đã trở thành một sinh thể, có tâm trạng, có hồn, mang nỗi niềm của con người. Cảnh vật như nhuốm màu chia ly “Gió theo lối phong vân đường mây”. Câu thơ tách nhịp 4/3 chia làm hai nửa: một gió một mây. Từ “gió” được điệp lại ở vế một, đóng khung một toàn cầu đầy gió, chỉ có gió, chỉ riêng gió. Từ “mây” điệp ở vế hai, tạo nên một toàn cầu mây khép kín chỉ có mây. Vậy là hai sự vật vốn dĩ chỉ đi liền với nhau thì nay tác biệt và chia lìa. Gió đóng khung trong gió, mây khép kín trong mây. Câu thơ mang tới một hiện thực phi lý về hiện thực khách quan, nhưng rất có lý về hiện thực tâm trạng. Thi sĩ đang sống trong cảnh chia ly, cách biệt, sống trong cảnh đời đầy nghịch lý cho nên gió cứ gió, mây cứ mây. Từ “lay” mang một nỗi buồn trong ca dao, chỉ hoạt động rất nhẹ của sự vật hiện tượng khi có gió nhẹ. Nó mang nỗi buồn truyền thống của ca dao, thổi vào nỗi buồn muôn thuở của con người.

Hai câu thơ sau, ta trông thấy được tâm trạng lo lắng, phấp phỏng của thi sĩ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”

Cảnh vật được gợi ra một cách lung linh, huyền ảo, tràn ngập ánh trăng, mang ý nghĩa vừa thực vừa ảo. “Sông trăng” có thể hiểu là dòng sông tràn ngập ánh trăng, cũng có thể là trăng tuôn chảy thành dòng. “Thuyền trăng” là con thuyền chở đầy trăng, cũng có thể hiểu là trăng giống như hình ảnh một con thuyền. Dù hiểu theo cách nào thì trăng đã tràn ngập cả không gian, vừa thực vừa ảo, tạo nên một cảm giác mơ hồ. Trong thơ của Hàn Mặc Tử có cả một miền trăng, để có một toàn cầu tri kỉ, chất chứa tâm sự, giải tỏa những niềm đau, trăng đối với Hàn Mặc Tử là một người bạn tri kỉ. “Thuyền ai” lại gợi ra một danh từ phiếm chỉ. Hai câu thơ chứa đựng cả những hình ảnh tranh chấp. Câu dưới không có trăng, ý thơ phi lý về hiện thực nhưng chúng ta có thể lý giải được khi dựa vào tâm trạng của chủ thể trữ tình. Trăng lúc có lúc không, mỏng mảnh và mờ ảo, người tri kỷ cũng mờ ảo và mỏng mảnh nên lo lắng, phấp phỏng là thế. Chờ trăng là chờ sự tri kỉ, chờ sự đồng điệu, chờ sự sẻ chia và chờ được khát khao, giao cảm với đời, là một con người thông thường mong muốn sự giao cảm. Từ “kịp” thể hiện một tâm trạng lo lắng của thi sĩ, tâm trạng đợi chờ, thèm khát. từ đó thể hiện được quỹ thời gian sống đang bị vơi cạn đi từng ngày, cuộc chia lìa vĩnh viễn có thể tới bất cứ lúc nào. Với một người thông thường nếu như không trở về tối nay thì còn nhiều những đêm khác, nhưng với Hàn Mặc Tử nếu như thuyền không trở về tối nay, không có sự tri kỉ thì thi sĩ sẽ ra đi vĩnh viễn trong đau buồn.

Những cảm nhận khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ cho ta thấy được hoài niệm của tác giả về cảnh sông nước đêm trăng, đồng thời cũng hiểu được tâm trạng lo lắng, phấp phỏng của thi sĩ. Tác giả cũng đang chờ đợi sự tri kỉ, sự chia sẻ để dịu bớt nỗi đau trên hành trình trở về toàn cầu bên kia. Đó hay chăng chính là sự xót xa trong thảm kịch thế cục của một thi sĩ tài hoa nhưng bạc phận.

Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ khổ 2 – Mẫu 4

Đây thôn Vĩ Dạ là Bài thơ được viết ra từ hai nguồn cảm hứng: thứ nhất là cảm hứng đẹp với một ngôi làng vùng quê ven bờ sông Hương, cây cối tươi tốt, thơ mộng. Cảm hứng thứ hai, theo thi sĩ Quách Tấn đó là mối tình đơn phương nhiều ước mơ với Hoàng Cúc.

Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ rất nổi tiếng của Hàn Mặc Tử, in trong tập Thơ điên. Bài thơ không chỉ làm rạng danh cho một thi sĩ tài hoa, đa cảm nhưng thế cục gặp nhiều tình cảnh trái ngang, xấu số mà còn góp phần tô điểm cho một địa danh vốn đã nổi tiếng ở Huế:

Đây xứ tơ tưởng, đây xứ thơ

Bài thơ gồm ba khổ: Khổ một là vẻ đẹp mới mẻ, tinh khôi, chứa chan sức sống của khu vườn trong ánh nắng sớm mai. Khổ hai: bầu trời, sông nước Vĩ Dạ trong tâm trạng buồn, chia li vô vọng và đau đáu một nỗi khát khao gặp gỡ của Hàn Mặc Tử.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Tiếp theo khổ một đặc tả vẻ đẹp trong sáng, thơ mộng, tràn đầy sức sống của vườn thôn Vĩ Dạ vào một buổi sớm mai, khổ hai đã mở rộng ra quang cảnh bầu trời, sông nước Vĩ Dạ. Bài thơ nhường nhịn như có sự vận động từ ngoại cảnh vào tâm trạng. vì vậy, Bầu trời sông nước cũng nhuốm đầy tâm trạng thi nhân. Cảnh vật xuất hiện với bốn hình ảnh: “gió”, “mây”, “dòng nước”, “hoa bắp”. Hai hình ảnh “gió”, “mây” ở đây trở nên chia lìa, trái tự nhiên, không hoà nhập “gió một đường, mây một nẻo” này được thể hiện theo logic của tâm trạng buồn, đơn chiếc vì mối tình ở dạng “đơn phương”, “vô vọng” của thi sĩ với Hoàng Cúc. Chú ý phân tích những điệp từ, cách ngắt nhịp câu thơ đã làm nổi trội xúc cảm trên.

Câu thơ thứ hai với hai hình ảnh “dòng nước” và “hoa bắp” cũng đã tiếp tục tô đậm thêm tâm trạng thi nhân: buồn lặng lẽ, hiu hắt, có thể hiểu hai câu thơ ở khổ thơ này vừa tả cảnh, vừa tả tình trong cảnh và cả nhịp độ của cảnh: Tình buồn chia li, sầu tủi, hiu hắt. Cảnh êm đềm phẳng lặng, nhịp độ cảnh “trầm tư chẳng nơi nào có được” của Huế đẹp và thơ.

Cùng với cảm giác chìa lìa, mạch thơ đã chuyển hẳn một toàn cầu thôn Vĩ thực và tràn trề ánh nắng ở khổ 1 sang một toàn cầu mộng, tắm đẫm ánh trăng ở khổ 2:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Trăng dưới ngòi bút tài hoa của Hàn Mặc Tử bỗng trở nên huyền ảo, tràn đầy vũ trụ, tạo nên một không khí nửa thực nửa hư, như trong cõi mộng. Trăng vốn là biểu tượng cho cái đẹp, cho hạnh phúc, niềm vui. Với Hàn Mặc Tử, trong bối cảnh lúc đó, trăng có ý nghĩa như “một bám víu duy nhất, như người bạn tri kỉ, tri kỉ”, giờ chỉ còn là nỗi ước ao, khát khao gặp gỡ và nỗi niềm lo lắng về sự muộn màng, dang dở. vì vậy, câu thơ của Tử chứa lên như một nghi vấn đau đáu, một nỗi niềm day dứt đầy phấp phỏng “Có chở trăng về kịp tối nay?”.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 5

Phong trào thơ mới năm 1932-1945 là sự nở rộ của cái tôi tư nhân. Có thể thấy nếu như thơ trung đại gắn liền với những điều lớn lao, ước lệ thì thơ mới gắn liền với xúc cảm. Như thi sĩ Hàn Mạc Tử nói rằng: “tôi làm thơ tức là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”. Về cơ bản thơ Hàn luôn hướng tới quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật nhưng cái đẹp trong thơ ông lại riêng biệt, nó là nét đẹp kì dị, đau thương đan xen với những thứ hư ảo. Thiên nhiên trong thơ ông cũng vậy, nhuốm màu tâm trạng, như thực mà như mơ:

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Bốn câu thơ được trích trong bài thơ nổi tiếng Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử đã vẽ lên một bức tranh sông nước xứ Huế nhưng bức tranh ấy cũng đượm nỗi buồn lo. Mở đầu khổ thơ với hình ảnh ” gió” và “mây”. Gió và mây xưa kia thường ” gió thổi mây bay” nhưng trong thơ ông hai sự vật ấy lại chia làm đôi ngả.

Những thứ vốn dĩ không thể tách rời thì hồn thơ Hàn Mạc Tử đã chia cắt những thứ không thể cắt chia. Bản thân dòng nước cũng là một vật vô tri vô giác trong tự nhiên nhưng với giải pháp nhân hóa ” dòng nước buồn thiu” khiến nó có những xúc cảm buồn, vui của con người. Điệu chảy ” buồn thiu” của dòng sông Hương lững lờ yên tĩnh như điệu làn yên ả. Không những vậy nhường nhịn sự chảy trôi vô định của dòng nước thấm đẫm nỗi buồn ly tán của sự vận động giữa mây và gió hay chính là sự tự ti chia lìa của Hàn Mạc Tử lây lan sang cảnh vật.

Đúng như lời Nguyễn Du đã nói trong truyện Kiều ” lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Trên dòng sông Hương xứ Huế ấy là những “hoa bắp lay” khẽ lay động ở đôi bờ, rất nhẹ và rất khẽ, đặt cùng gió, mây, nước hoa bắp “lay” ấy trong ca dao và cũng gặp cái buồn ấy trong thơ , trong nỗi buồn của người chinh phụ, Trúc Thông có viết: “Lá ngô lay ở bờ rông”.

Cảnh sông Hương xứ Huế hiện lên thật buồn , phong vân đôi ngả, hoa bắp lay , hoang vắng rợn ngợp thấm thía nỗi buồn của sự thê lương. Nỗi buồn thi sĩ hòa hợp với nhịp buồn xứ Huế cùng những khát khao khôn nguôi:

Thuyền ai chở bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

Trong tâm trạng thẻ lương ấy, chợt bật lên những ước ao hy vọng là có một điều gì đó có thể trở về với mình để níu giữ, để bám víu. nhường nhịn như ước mơ của thi sĩ thường gắn với trăng, với thuyền thể hiện thèm khát tri kỉ. Bởi thuyền chở trăng mang một vẻ đẹp mà tác giả luôn hướng tới, vẻ đẹp hư huyền ảo hoặc khó phân định . Đây quả là một sản phẩm của trí tưởng tượng với dòng sông trăng đang trôi chảy, hay trăng đang lan mình thành nước để trôi chảy từ vũ trụ về nơi xa. Thuyền chở trăng vừa mơ vừa thực. kế bên những khát khao mong đợi ấy còn là những lo lắng qua từ “kịp”, nỗi mong ước thầm kín đã tìm được nơi gửi gắm là con thuyền trên sông trăng nhưng càng thèm khát hy vọng thì lại càng lo lắng bởi nỗi tự ti vì hiện tại ngắn ngủi. Khát vọng thì ít mà cảm giác vô vọng thì lấp đầy tâm hồn. Những mong muốn tưởng chừng giản đơn ấy của Hàn Mặc Tử lại gắn liền với những đau thương và dự cảm vỡ.

nếu như khổ thơ mở đầu là cảnh thực thì cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ dạ nghiêng về toàn cầu ảo. Trong nỗi buồn da diết thì thi sĩ muốn nương tựa vào cái đẹp của tình đời tình người nhưng càng trông đợi thì vẫn không tránh khỏi những vô vọng để rồi tác giả chìm sâu vào trong cõi mộng. Khổ thơ thứ hai này góp phần tạo sự liên kết và trị giá sâu sắc cho cả bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ giúp khẳng định tài năng và thể hiện những xúc cảm chân thật nhất của Hàn Mặc Tử- thi sĩ “điên”.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 6

Trong phong trào Thơ Mới những thi sĩ được tự do thể hiện cái tôi tư nhân của mình. nếu như như Xuân Diệu thể hiện tình yêu thiên nhiên yêu con người nhưng vẫn đơn chiếc hoài nghi của mình, Lê Trọng Lư thì thả sức phiêu lưu cùng những bài ca tình yêu thì Hàn Mạc Tử lại quằn quại đớn đau trong những vần thơ về bệnh tật. Đọc thơ Hàn Mạc Tử ta không thể nào không nhớ tới bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – một bài thơ chở đầy những xúc cảm của thi sĩ về con người về mảnh đất Huế thương. Đặc biệt trong bài thơ ấy ta ấn tượng nhất với những cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ khi nó mang đầy thảm kịch và chất chứa bao nỗi buồn.

Bài thơ được sáng tác khi thi sĩ nhận được tấm bưu thiếp của người con gái mang tên một loài hoa đó là nàng Hoàng Cúc. thi sĩ gặp cô gái ấy ở Huế và đã có một khoảng thời gian ở cạnh nhau. Cả thi sĩ cũng như cô gái đều hiểu được tấm lòng của mình trái tim của mình nhưng khổ nỗi thi sĩ vốn là người nhút nhát. Trước Hoàng Cúc cũng có biết bao cô gái phải lòng ông cũng như ông mến họ nhưng ông lại không một lần nào ngỏ lời, dần dần những cô gái ấy không thể đợi chờ thêm được nữa nên đã rời xa ông. Và Hoàng Cúc cũng không ngoại lệ. Khi đã chia xa thì cô gái ấy đã đi lấy chồng nhưng trong lòng vẫn coi ông là một người bạn. Biết tin ông bị bệnh cô gái ấy đã gửi cho ông một tấm bưu thiếp để hỏi thăm và trách móc sao không về chơi thôn Vĩ. Vậy là bây nhiêu nỗi nhớ niềm thương con người và cảnh vật Huế thương cứ thế ngập tới thi sĩ một cách tự nhiên.

Đoạn thơ thứ hai mang tới cho chúng ta biết bao nhiêu trằn trọc suy nghĩ của mình về cuộc sống và số phận của thi sĩ tài năng này. Đây có thể coi là đoạn mang tâm trạng nhất, buồn nhất thảm kịch nhất.

Mở đầu khổ thơ thi sĩ đã nhắc tới sự chia ly buồn bã. Bởi hiện tại làm cho thi sĩ luyến tiếc những gì đã qua và bốn bức tường cách ly kia chính là sự cản trở ngăn cách:

“Gió theo lối gió, mây đường mây”

Theo quy luật tự nhiên thì gió thổi mây bay vậy mà ở đây thi sĩ lại tách mây và gió ra, gió theo lối gió còn mây đi đường mây thể hiện sự chia ly cách trở. thi sĩ thảm sầu buồn bã nên đã phá quy luật của tự nhiên để thể hiện sự khắc nghiệt của sự chia ly này. Gió và mây ở đây có phải chính là thi sĩ và người con gái Huế phúc hậu xinh đẹp ấy. Hay cũng chính là thi sĩ và thế cục này. Ngày thi sĩ ra đi khỏi Huế thi sĩ không biết được đó lại là ngày cuối cùng và vĩnh viễn không thể quay lại thăm con người cảnh vật nơi đây được nữa. Hàn Mạc Tử vẫn còn lưu luyến lắm cái thế cục này vậy mà số phận đưa đẩy làm sao để cho thi sĩ phải mắc một căn bệnh không thuốc chữa, để cho nó ngày ngày phá hoại thân thể, thi sĩ phải chịu đớn đau. Chính vì vậy mà Hàn Mạc Tử nhìn đâu cũng thấy chia ly cách xa. thi sĩ có nỗi sầu vạn kỉ Cù Huy Cận cũng đã từng thể hiện sự chia ly qua hình ảnh:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Cũng sầu đó, chia ly đó nhưng sao nó chưa trở thành thảm kịch như câu thơ của hàn Mặc Tử được nỗi buồn không chỉ lan tỏa trên bầu trời nơi mà ánh mắt của thi sĩ hướng tới để tìm sự hy vọng mà nó còn lan tỏa khắp cảnh vật nơi đây. Bởi:

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”

“ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Dòng nước kia như được nhân hóa cũng biết buồn giống y như thi sĩ vậy, tâm trạng không tốt thì nhìn đâu cũng thấy không vui. Ta có thể cảm nhận được dòng nước kia lững lờ trôi chậm thế nào để cho nỗi buồn của thi sĩ càng có chỗ chiếm đóng, càng dằn vặt thi sĩ nhiều hơn. Cơn gió kia cũng không mạnh mẽ, không tươi mát không mang lại cảm giác xao xuyến cho con người. Nó chỉ khẽ lay hoa bắp bên sông. Những từ “buồn thiu” , “khẽ” sao mà khiến cho người ta đau lòng tới thế.

Trước dòng sông, bên bờ hoa bắp ấy lại xuất hiện con thuyền, bến cũ, trăng mờ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó”

Đại từ ai vang lên không biết rằng đó là thuyền của Hoàng Cúc của người dân xứ Huế hay của ai. Hay đơn thuần thi sĩ chỉ nói một cách bâng quơ như thế. Chính sự bâng quơ ấy lại thể hiện được tâm trạng của thi sĩ. Đó là một tâm trạng mơ hồ, khó tả, đau mà lại không đau, nhớ mà lại thương, vui khi nhận được tấm bưu thiếp của Hoàng Cúc nhưng lại không vui vì hiện thực này. Con thuyền ấy chắc cũng đi hết chặng đường của một ngày và nó đang nằm im trên bến đậu. Chợt nghĩ tới thi sĩ sống cũng được sắp nửa đời người mà giờ cũng trong trạng thái nằm im một chỗ. Thế nhưng con thuyền kia chỉ ngơi nghỉ rồi sáng mai lại lên đường tiếp tục qua sông này sông khác còn Hàn Mạc Tử thì chỉ có một đời người vậy thôi. Ánh trăng như in từng nét lù mù trên dòng sông ấy. Một bức tranh nên thơ nên họa mà sao lại buồn man mác thế này!

Đặc biệt nhất, ấn tượng nhất, thảm kịch nhất lại chính là câu thơ cuối cùng của khổ thơ này:

“Có chở trăng về kịp tối nay?”

Một nghi vấn tu từ vang lên mà không có lời tư vấn. Từ“kịp” chính là từ mang đầy thảm kịch. thi sĩ như lo lắng bối rối khi nghĩ không biết con thuyền kia có chở được ánh trăng về kịp tối nay. Chở ánh trăng hay chính là trở người con gái kia tới kịp với thi sĩ. Ông không tham lam gì cả mà ông chỉ lo sợ rằng cái lưỡi hái tử thần có thể cướp ông đi khỏi thế gian này bất cứ lúc nào và điều ông mong muốn chỉ là gặp lại sức xưa một lần thôi.

Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đem lại cho ta xúc cảm về tình cảm và thế cục của thi sĩ, Ai mà không thương xót cho số phận không may mắn ấy. Khi người ta sắp phải rời xa thế cục này và họ còn quá trẻ vẫn còn hoài bão, vẫn còn tình yêu dang dở thì họ sẽ hiểu thi sĩ đã khổ cực thế nào.

Phân tích khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 7

Hàn Mặc Tử, một trong những thi sĩ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới, thơ của ông luôn phảng phất nỗi buồn, nổi tiếng trong số những sáng tác của Hàn Mặc Tử là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được in trong tập thơ “Đau thương”. Bài thơ là một bức tranh phong cảnh thôn Vĩ nhưng cũng là bức tranh tâm trạng chứa đựng nhiều tâm trạng, xúc cảm và tâm sự của nhân vật trữ tình, đặc biệt trong khổ thơ thứ hai, vẻ đẹp thiên nhiên và tâm hồn con người đã được đan xen hòa quyện vào nhau.

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?”

Có thể nói ở khổ thơ này Hàn Mặc Tử đã hướng tâm trí của mình về dòng sông Hương, một hình ảnh đã gắn liền với thôn Vĩ Dạ, sông Hương hiện lên với vẻ êm đềm, trầm tư mặc tưởng, thơ mộng trữ tình, nhân vật trữ tình hay chính là tác giả nhìn con sông mà trong lòng chứa đựng nhiều suy tư, xúc cảm. Hai câu thơ đầu tác giả sử dụng văn pháp tả thực vẻ đẹp êm đềm, thong dong của xứ Huế:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Mọi cảnh vật nhường nhịn như chậm rãi: gió khẽ thổi, mây nước lững lờ trôi, hoa bắp khẽ đung đưa lay động, thi sĩ đã sử dụng giải pháp nhân hóa với cả gió, mây và nước, chúng như mang tâm trạng và cũng có sự liên kết, gắn kết với nhau: có phong vân mới bay, có gió thì dòng sông mới có sóng nước, chúng thường đi với nhau khiến cho cảnh vật trở nên sống động hơn, thế nhưng ở đây mây và gió lại xa rời nhau, gió và mây mỗi bên một đường một ngả tạo nên sự xa rời chia ly. Ít mây ít gió mà mây gió lại không có cùng nhau nên dòng sông cũng đành “buồn thiu”, cây cỏ cũng chỉ lay động rất nhẹ, cảnh vật trở nên thiếu sự sống, đây là một hình ảnh đẹp nhưng lại rất hiu quạnh, lặng lẽ và đượm buồn. Hai câu thơ sau khắc họa rõ tâm trạng của nhân vật trữ tình hay chính là thi sĩ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Tuy mang tâm trạng u buồn, đơn chiếc nhưng trong tâm hồn của tác giả vẫn chứa chan tình yêu thiên nhiên và con người xứ Huế, dưới cái nhìn của tâm hồn thi sĩ, dòng sông đã không còn là một dòng sông thông thường có nước chảy mà đã trở thành một dòng “sông trăng”, dòng sông chứa đầy ánh sáng trăng vàng, hình ảnh đó khiến cho cảnh vật càng thêm huyền ảo, thơ mộng. Con thuyền có thực trên dòng sông cũng được chuyển đổi thành một con thuyền đậu trên bến sông trăng, thuyền chở trăng về một bến nào đó trong mộng tưởng của thi sĩ. nghi vấn tu từ “Có chở trăng về kịp tối nay?” cho thấy tác giả nóng vội, chờ đợi, mong muốn con thuyền chở trăng về trong tối nay chứ không phải là một tối nào khác, phải chăng cái “tối nay” đó là một tối thật buồn, thật đơn chiếc, thi sĩ muốn được tâm sự với trăng, và cũng chỉ có trăng mới hiểu được nỗi lòng thi sĩ. Mong chờ trăng cũng cho thấy Hàn Mặc Tử rất yêu trăng, ông cũng yêu cảnh vật và con người Huế nhưng hai thứ đó không thấu hiểu và không đáp lại được tình yêu của thi sĩ. thi sĩ mong muốn gặp được trăng cũng giống như thèm khát gặp được một tình yêu tha thiết, kín đáo, nhưng đó là sự chờ đợi khắc khoải, khôn nguôi.

Qua khổ thơ thứ hai bài thơ “Đây thôn vĩ dạ” của Hàn Mặc Tử chúng ta cảm nhận được những tâm tư của thi sĩ nhờ bức tranh thiên nhiên xứ Huế, tuy những tâm trạng đó chỉ là của riêng tác giả nhưng lại có sức tác động, có sự cộng hưởng rộng rãi và bên lâu trong lòng người đọc. Chỉ một đoạn thơ bốn câu ngắn ngủi nhưng vẫn chứa đựng tất cả, thiên nhiên xứ Huế, tình yêu của tác giả với xứ Huế nói chung và Vĩ Dạ nói riêng.

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 8

Hàn Mặc Tử được biết tới là một trong những thi sĩ có sức sáng tạo mạnh nhất trong phong trào thơ mới. Thế nhưng thơ của ông lại phản phất một tí gì đó mơ hồ và đầy bí mật tới mức Hoài Thanh hết lời ngợi khen thơ ông như một nguồn thơ dào dạt và lạ thường.

Không những thế, Hoài Thanh đã phải bỏ ra một tháng trời để nghiên cứu toàn bộ thơ Hàn Mặc Tử và xác nhận Vườn thơ Hàn rộng rinh không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh. Phải chăng vì vậy cục ông mang nhiều bi thương và số phận vô cùng xấu số mà thơ của ông luôn tiện hiện một tình yêu đớn đau hướng về thế cục trần thế tới vậy? Và trong số những tác phẩm ấy, nổi trội nhất và đậm chất Hàn Mặc Tử nhất có nhẽ là Đây thôn Vĩ Dạ.

Mở đầu khổ 2 của bài Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử đã đề cập ngay tới hình ảnh thiên nhiên sinh động:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Hình ảnh gió và mây từ bao đời nay đã gắn liền với nhau như đôi bạn tri kỷ, không thể tách rời – gió thổi mây bay. Thế nhưng, qua giải pháp sử dụng nghệ thuật nhân hóa đầy sáng tạo của mình, Hàn Mặc Tử đã tạo nên một nghịch lý chưa từng có từ trước tới nay. Ông vẽ lên một bức tranh thiên nhiên mênh mông rộng lớn: có gió – nhưng gió theo lối gió; cũng có mây, nhưng lại mây đường mây.

Mây gió đôi đường, đôi ngả. Đồng thời, Hàn Mặc Tử còn sử dụng nhịp thơ một cách vô cùng tinh tế – nhịp 4/3. Cách ngắt nhịp này đã tạo điều kiện cho câu văn của ông tách thành 2 vế đối nghịch nhau, một bên là gió, bên còn lại là mây khiến sự chia lìa, cách xa này lại càng thêm xa rời. Từ đó, hai người bạn tri kỉ ấy, tưởng nghe đâu không thể nào xa rời, lại ngoảnh mặt quay lưng, đôi ngả chia ly.

quả thực, có nhẽ Chế Lan Viên đã đúng khi nói Tôi xin hứa hứa hẹn với những người rằng, ngày mai, những cái tầm thường mực thước kia sẽ tan biến đi, và còn lại của cái thời này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử. Chỉ có ông mới có thể biến cái tưởng nghe đâu phi lý trong hiện thực lại trở nên vô cùng hợp lí trong thơ văn.

Nhưng mọi vật Hàn Mặc Tử nhân hóa chỉ đơn thuần để diễn tả cảnh gió, cảnh mây. Nguyễn Du đã từng viết trong tác phẩm nổi tiếng của ông Truyện Kiều rằng: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Hàn Mặc Tử buồn vì biết mình mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, quái ác; buồn vì vẫn còn luyến lưu những cảnh vật thơ mộng và buồn vì mối tình đơn phương với người con gái xứ Huế chỉ còn lại trong giấc chiêm bao! Nhưng trên tất cả, có nhẽ ông sợ nhiều hơn là buồn. ông sợ một ngày nào đó mình chẳng còn tồn tại trên cõi đời này nữa.

Có phải chăng vì buồn, vì sợ mà cảnh Huế vốn dĩ rất thơ mộng, trữ tình đã dần nhuốm một màu bi ai tới não lòng:

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Từ trước tới nay, sông Hương được biết tới như một vẻ đẹp tinh khôi, dịu dàng và được xem là một trong những biểu tượng lớn của xứ Huế. vì vậy sẽ chẳng lấy làm lạ nếu như Sông Hương luôn trở thành đề tài chính trong những tác phẩm thơ ca nước ta. Sông Hương không chỉ được nhắc tới với một tính yêu nồng nhiệt, chân tình mà cháy bỏng trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo:

Sông Hương hóa rượu ta tới uống
Ta tỉnh, đền đài ngả nghiêng say…

Thế nhưng, dưới ngòi bút tài tình của Hàn Mặc Tử, sông Hương lại hiện ra với một vẻ u sầu, ảo não. Buồn thiu là cái buồn nhè nhẹ nhưng dằng dai, nó len lỏi và thấm dần vào tâm hồn của thi nhân và lan sang cả những thứ vô tri vô giác: dòng nước, hoa bắp. Để rồi, dòng nước ấy lại trôi đi một cách lững lờ; hoa bắp kia lại lay động, đung đưa thật chậm, thật nhịp nhàng theo từng nhịp đưa của gió. nhường nhịn như nỗi buồn của thi nhân được hòa quyện dần vào nỗi buồn của thiên nhiên, của vạn vật làm cho buồn lại càng thêm buồn, đơn chiếc lại càng thêm hiu quạnh.

Buồn bã là thế, đơn chiếc là thế! Nhưng khi trời xuống trăng lên, không chỉ cảnh vật, mà cả tâm tư, tình cảm con người cũng chuyển mình thay đổi: Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.Câu thơ hiện lên mang theo một quang cảnh tràn ngập ánh trăng – người bạn tâm tình của tác giả. Thật dễ dàng đề thấy trăng có mặt khắp mọi nơi: trăng chất đầy trên con đò đơn độc đậu lặng lẽ bên bờ; trăng trải dài, dát vàng cả một bến đò rộng lớn; trăng tan chảy hòa quyện vào con sông Hương lặng lẽ trôi hững hờ.

Phải là người có một tâm hồn yêu trăng, say trăng tới điên dại mới có thể tưởng tượng ra được hình ảnh bến sông trăng vô cùng đặc sắc này! Trước đây, trong thơ Trương Kế thời Đường chỉ mới xuất hiện Thuyền ai đậu bến Cô Tô; trong Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư, 1300 năm về trước chỉ có Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng. Thì nay có thể nói rằng hình ảnh sông trăng của Hàn Mặc Tử là vô cùng đặc sắc và tinh tế.

Với sự tinh tế và sáng tạo đó, con thuyền ở hiện thực đã dần đi vào toàn cầu mộng tưởng nhờ vào sự bao phủ của ánh trăng huyền ảo. Liệu rằng có phải Hàn Mặc Tử đã mượn sự huyền ảo, mộng mị của vầng trăng để che lấp đi niềm đau và nỗi buồn của hiện tại? Bởi ông luôn nghĩ về thơ với một quan niệm có phần kỳ lạ, khác người: Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một vong linh thương nhớ ước ao trở lại trời xưa. Không chỉ có thế, từ trước tới nay,trăng luôn xuất hiện trong những vần thơ của ông một cách kỳ lạ hơn gấp mấy lần:

…Nước hóa thành trăng trăng ra nước
Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm
….
Say! Say lảo đảo cả trời thơ
Gió rít tầng cao trăng ngả ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng.

(Say trăng- Hàn Mặc Tử)

vậy mà giờ đây, hình ảnh vầng trăng trong Đây thôn Vĩ Dạ lại đậm chất trữ tình hơn, đằm thắm hơn: Có chở trăng về kịp tối nay? nghi vấn tu từ được thốt lên chứa đầy nỗi niềm âu lo, day dứt của người thi sĩ. Nhưng vì điều gì mà thi sĩ phải đợi trăng về chuẩn xác trong tối nay, chứ không phải là tối mai hay bất kì tối hôm nào khác? Hơn ai hết, có nhẽ ông là người hiểu rõ căn bệnh mình mắc phải và khoảng thời gian ngắn ngủi mà mình còn có thể tồn tại trên cõi đời này.

Chính vì vậy, trong lòng thi sĩ trỗi dậy trong lòng một nỗi niềm, một khát khao nhỏ bé – được gặp trăng, được tận mắt nhìn thấy người bạn tri kỉ của mình trong đêm nay để cùng được san sẻ nỗi buồn, san sẻ nỗi đơn chiếc, vô vọng cùng với vầng trăng ấy!

Vầng trăng với ông lúc này như một tia hy vọng nhỏ nhoi, mỏng mảnh chỉ còn le lói chút ít ánh sáng cuối cùng trong màn đêm u tối. Nó cũng chính là lý do khiến Hàn Mặc Tử không ngừng canh cánh, lo lắng rằng: liệu chiếc thuyền ấy, con đò ấy có kịp đưa trăng về cùng ông trong tối nay?

Qua bốn câu thơ tuy ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn giàu tính tượng trưng, giàu sức gợi hình, gợi cảm, cùng với những giải pháp nghệ thuật: nhân hóa, sử dụng nghi vấn tu từ, tả cảnh ngụ tình… được sử dụng một cách vô cùng điêu luyện và tuyệt diệu.

Đoạn thơ không chỉ giúp độc giả hiểu thêm về tâm tư, tình cảm từ sâu bên trong đáy lòng của một thi sĩ khi sắp phải xa rời chốn trần thế, mà nó còn phần nào khẳng định tài năng và tâm hồn yêu cuộc sống, yêu quê hương quốc gia sâu nặng.

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 9

nếu như như thơ trung đại gắn liền với những điều lớn lao, ước lệ thì thơ Mới gắn liền với những xúc cảm tư nhân. Có thể thấy giai đoạn 1932-1945 là giai đoạn nở rộ của cái tôi tư nhân người nghệ sĩ. thi sĩ Hàn Mạc Tử đã nói rằng: ” tôi làm thơ tức là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”. Về cơ bản thơ ông luôn hướng tới quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật nhưng cái đẹp trong thơ ông lại riêng biệt, nó là nét đẹp kì dị, đau thương đan xen với những thứ hư ảo. Thiên nhiên trong thơ ông cũng vậy, nhuốm màu tâm trạng, như thực mà như mơ:

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mở đầu khổ thơ với hình ảnh ” gió” và “mây”:

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Gió và mây luôn luôn gắn bó với nhau ” gió thổi mây bay” nhưng trong khổ thơ này hai sự vật ấy lại chia làm đôi ngả. Câu thơ tách thành hai vế khác nhau, mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh gió khép lại cũng gió, mở đầu vế thứ hai là mây thì kết thúc cũng là mây. Từ đó ta thấy “gió” và “mây” như những kẻ xa lạ, quay lưng với nhau. Những thứ vốn dĩ không thể tách rời thì hồn thơ Hàn Mạc Tử đã chia cắt những thứ không thể cắt ấy. Dòng nước cũng chỉ là một vật vô tri vô giác trong tự nhiên nhưng với giải pháp nhân hóa ” dòng nước buồn thiu” khiến nó trở nên có những xúc cảm buồn, vui của con người. Điệu chảy ” buồn thiu” của dòng sông Hương lững lờ yên tĩnh như điệu làn yên ả. Và nhường nhịn như sự chảy trôi vô định của dòng nước thấm đẫm nỗi buồn li tán của sự vận động giữa mây và gió cũng có thể là sự tự ti chia lìa của Hàn Mạc Tử lây lan sang cảnh vật. Như Nguyễn Du đã nói ” người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Trên dòng sông Hương xứ Huế ấy là những “hoa bắp lay” khẽ lay động ở đôi bờ, rất nhẹ và rất khẽ, đặt cùng gió, mây, nước hoa bắp “lay” ấy trong ca dao và cũng gặp nỗi buồn ấy trong thơ , trong nỗi buồn của người chinh phụ. Sông Hương vốn đẹp đẽ và thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam vậy mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâu thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng “buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Hai câu thơ đã mở ra bức tranh thiên nhiên âm u nỗi buồn hiu hắt mang dự cảm về hạnh phúc chia li nhuốm màu chia lìa, sự sống mỏi mệt yếu ớt. Thi sĩ tạo ra hình ảnh này không phải bằng thị giác mà bằng cái nhìn của tâm trạng, tâm hồn mang tự ti của một người luôn gắn bó thiết tha với đời mà đang có nguy cơ phải chia lìa.

Hai câu thơ tiếp là nỗi nhớ, là hoài niệm của nhân vật trữ tình về sông nước, đêm trăng và tâm trạng xót xa, nuối tiếc:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Cảnh sông nước được mô tả gắn với hình tượng trăng. Sông trở thành sông trăng, thuyền trở thành thuyền trăng, bến trở thành bến trăng gợi không khí mơ hồ huyền ảo, đẹp một cách thơ mộng làm cho không gian nghệ thuật ở đây càng thêm hư ảo, mênh mang. Dòng sông của hiện thực đã trở thành dòng sông của cõi mộng. Cảnh vật đã được ảo hóa gợi lên cảm giác chơi vơi trong tâm trạng của thi sĩ. Hình ảnh con thuyền đơn chiếc nằm trên bến sông trăng là một hình ảnh sáng tạo độc đáo của tác giả, nó mang theo những nỗi niềm của thi sĩ. nếu như mọi vật đang trong thế chia lìa, li tán thì chỉ có trăng là đi trái lại với tất cả để trở về với thi sĩ. Tâm hồn thi sĩ đang rợn ngợp trong nỗi đơn chiếc, tưởng như mình bị bỏ rơi bên bờ quên lãng. Trong khoảnh khắc ấy thi sĩ chỉ còn biết mong đợi một hình ảnh duy nhất là trăng. Câu cuối cùng là nghi vấn ẩn chứa biết bao nỗi niềm khắc khoải, lo lắng bởi quỹ thời gian còn lại rất ngắn ngủi mà trăng thì vẫn quá xa xôi. Tâm trạng trữ tình phấp phỏng, lo lắng được thể hiện qua từ “kịp” vừa như mong chờ hy vọng một cái gì đó đang rời xa, biết khi nào trở lại.

Điều đó đã khiến thời gian “tối nay” càng trở nên ngắn ngủi, như một giới hạn trong quỹ thời gian ít ỏi còn lại của thi nhân. Qua hai câu thơ ta thấy được bức tranh thiên nhiên sông nước xứ Huế buồn hiu hắt trong đêm trăng chở nặng nỗi niềm ưu tư của thi nhân. Tất cả bức tranh ấy thể hiện qua một nghi vấn tu từ da diết và khắc khoải. Trăng đã đi vào thơ Hàn Mặc Tử như một nhân vật huyền thoại, một nơi chốn để tâm hồn thi sĩ được phiêu diêu, thoát tục.

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 10

Huế đẹp và thơ. Núi sông diễm lệ. Con gái Huế xinh tươi và đa tình. Nếp sống thanh lịch của miền núi Ngự sông Hương đã trở thành ấn tượng và cảm mến sâu sắc đối với bao người xa sắp:

“Đã đôi lần tới với Huế mộng mơ
Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt…”

Thơ ca viết về Huế có rất nhiều bài hay. Tiêu biểu là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), thi sĩ lỗi lạc trong phong trào “Thơ mới”. Bài thơ có ba khổ thơ thất ngôn nói về cảnh sắc và cô gái Vĩ Dạ trong hoài niệm với bao xúc cảm bâng khuâng, man mác, thẫn thờ.

Vĩ Dạ, một làng cổ xinh đẹp nằm bên bờ Hương Giang thuộc cố đô Huế, qua hồn thơ Hàn Mặc Tử mà trở nên sắp gũi yêu thương đối với nhiều người trong bảy mươi năm qua. Đây là khổ thơ thứ hai của bài “Đây thôn Vĩ Dạ”:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Khổ thơ thứ nhất nói về cảnh vật thôn Vĩ khi “nắng mai lên”… Ở khổ thơ thứ hai, Hàn Mặc Tử nhớ tới một miền sông nước mênh mang, mênh mông, một không gian nghệ thuật nhiều thương nhớ và lưu luyến. Có gió, nhưng ” gió theo lối gió”. Cũng có mây, nhưng “mây đường mây”. Mây gió đôi đường, đôi ngả:

“Gió theo lối ,gió/mây đường mây”.

Cách ngắt nhịp 4/3, với hai vế tiểu đối, gợi tả một không gian gió, mây chia xa, như một nghịch cảnh đầy sợ hãi. Chữ “gió” và “mây” được điệp lại hai lần trong mỗi vế tiểu đối đã gợi lên một bầu trời thoáng đãng, mênh mông. Thi nhân đã và đang sống trong tình cảnh chia li và xa rời nên mới cảm thấy phong vân đôi ngả đôi đường như tình và lòng người bấy nay. Ngoại cảnh phong vân chính là tâm trạng Hàn Mặc Tử.

Không có một bóng người xuất hiện trước cảnh phong vân ấy. Mà chỉ có “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Cảnh vật mang theo bao nỗi niềm. Sông Hương lững lờ trôi xuôi êm đềm, trong tâm tưởng thi nhân đã hoá thành “dòng nước buồn thiu”, càng thêm mơ hồ, xa vắng. “Buồn thiu” là buồn héo hon cả gan ruột, một nỗi buồn day dứt triền miên, cứ thấm sâu mãi vào hồn người. Hai tiếng “buồn thiu” là cách nói của bà con xứ Huế. Bờ bãi đôi bờ sông cũng vắng vẻ, chỉ nhìn thấy “hoa bắp lay”. Chữ ” lay” gợi tả hoa bắp đung đưa trong làn gió. Hoa bắp, hoa bình dị của đồng nội cũng mang tình người và hồn người.

Hai câu thơ thất ngôn với bốn thi liệu (gió, mây, dòng nước, hoa bắp) đã tụ họp hồn vía cảnh sắc thôn Vĩ. Hình như đó là cảnh chiều hôm? Hàn Mặc Tử tả ít mà gợi nhiều, tượng trưng mà ấn tượng. Ngoại cảnh thì chia lìa, buồn lặng lẽ biểu hiện một tâm trạng: thấm thía nỗi buồn xa vắng, đơn chiếc.

Hai câu thơ tiếp theo gợi nhớ một cảnh sắc thơ mộng, cảnh đêm trăng trên Hương Giang ngày nào. “Dòng nước buồn thiu” đã biến hoá kì diệu thành “sông trăng” thơ mộng:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”.

Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử được rất nhiều người ngợi ca, kết tinh rực rỡ văn pháp nghệ thuật tài hoa lãng mạn. Một vần lưng tài tình. Chữ “đó” cuối câu 3 bắt vần với chữ “có” đầu câu 4, âm điệu vần thơ chứa lên như một tiếng khẽ hỏi thầm “có chở trăng về kịp tối nay?”. “Thuyền ai” phiếm chỉ gợi lên bao ngỡ ngàng bâng khuâng, tưởng như quen mà lạ, sắp đó mà xa xôi. Con thuyền mồ côi nằm trên bến đợi “sông trăng” là một nét vẽ thơ mộng và độc đáo. Đã có “Thuyền ai đậu bến Cô Tô” hiện lên trong ánh trăng tà và tiếng quạ kêu sương trong thơ Trương Kế đời Đường. Đã có “Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng” trong “Xuân giang hoa nguyệt dạ” của Trương Nhược Hư, 1300 năm về trước. Lại có cảnh “trăng gió chứa một thuyền đầy” (Nguyễn Công Trứ). Còn có “Trăng sông Trà như tấm gương soi dòng nước bạc” (Cao Bá Quát) từ đó, ta thấy hình tượng “sông trăng” là mới mẻ, sáng tạo. Cả hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, câu thơ nào cũng có trăng. Ánh trăng tỏa sáng dòng sông, con thuyền và bến đò. Con thuyền không chở người (vì người xa rời chia li) mà chỉ “chở trăng về”. Phải “về kịp tối nay” vì đã cách xa và mong đợi sau nhiều năm tháng. Con thuyền tình của ước vọng nhưng đã thành vô vọng! Bến sông trăng trở nên vắng lặng vì “thuyền ai” chỉ là con thuyền mồ côi.

Sau cảnh gió, mây, là con thuyền, bến đợi và sông trăng, cảnh đẹp một cách mộng ảo. Cả ba hình ảnh ấy đều biểu hiện một nỗi niềm, một tâm trạng đơn chiếc, thương nhớ đôi với cảnh và người nơi thôn Vĩ. Như ta đã biết, thời trẻ trai, Hàn Mặc Tử đã từng học ở Huế từng có một mối tình đơn phương với một thiếu nữ thôn Vĩ, mang tên một loài hoa. Với chàng thi sĩ tài hoa, đa tình và xấu số, đang sống trong đơn chiếc và bệnh tật, nhớ Vĩ Dạ là nhớ cảnh cũ người xưa. Cảnh “gió theo lối gió, mây đường mây”, cảnh “thuyền ai đậu bến sông trăng đó” là cảnh đẹp mà buồn. Buồn vì chia lìa, xa vắng, lẻ loi và vô vọng.

Khổ thơ trên đây, mỗi câu, mỗi chữ, mỗi vần thơ đều thấm đẫm tình thương nhớ và một nỗi “buồn thiu” lẻ loi, vần thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Thơ Hàn Mặc Tử, đúng là thơ trữ tình hướng nội “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 11

Cuộc sống đối với bạn có thể là chuỗi ngày nhàm chán bởi sự lặp đi lặp lại những tháng ngày mung lung vô vọng; nhưng đối với một ai đó, nó lại đáng quý và tươi đẹp biết bao nhiêu. Đặc biệt là với những người chỉ còn một khoảng thời gian ngắn để gắn bó với thế cục này, thì cuộc sống lại càng trở nên quý giá và xa vời hơn bao giờ hết. Trong “Đây thôn Vĩ Dạ”, đặc biệt là khổ 2 của bài thơ, bạn sẽ cảm nhận một cách rõ nét khát vọng sống mãnh liệt cùng nỗi niềm tiếc nuối khi không thể tiếp tục nếm trải vị ngọt đắng thế cục của Hàn Mặc Tử. Từ đó, hãy tự hỏi rằng liệu bạn có đang quá lãng phí thời gian – thứ mà đối với người khác chỉ là mộng tưởng?

nếu như như khổ thơ thứ nhất cho ta cảm nhận đẹp nhất về sắc màu của thiên nhiên, của cuộc sống và tâm hồn của người thi sĩ, thì khổ thơ thứ hai sẽ là những nỗi niềm rất buồn, rất bi thương hòa vào cảnh sông nước đêm trăng:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”.

Dòng sông xứ Huế mộng mơ được xem như là vong linh của cảnh, vong linh của người. Tác giả đã mô tả cảnh vật một cách rất nhẹ nhõm, rất yên ả như chính cái cách Huế vận động vô cùng chậm rãi. Gió khẽ lay, mây nhè nhẹ bay cùng những hàng hoa bắp đung đưa rất yên ả, nhẹ nhõm. Từ đó, người đọc như được đứng trước quang cảnh yên bình lại nhuốm màu buồn của xứ Huế.

Cảnh vật sao buồn thế, có cái buồn như len lỏi, như sâu lắng, như bao trùm cả không gian mênh mông vậy? Câu thơ cứ thế như dài ra, khiến cho nỗi buồn cũng dằng dặc bao phủ mọi vật. Trong cái buồn đó, dòng sông cũng không thể tránh mang tâm trạng chung khi được nhân hóa “buồn thiu”. Câu thơ được tác giả tách thành nhịp 4/3, chia “gió” với “mây” thành hai vật thể riêng biệt.

Từ “gió” và “mây” được sử dụng phép điệp ở hai vế nhường nhịn như tạo nên một toàn cầu khép kín. Hai sự vật vốn dĩ luôn gắn liền với nhau, nay lại như không hề quen biết mà tách biệt, chia lìa theo hướng riêng. Gió đóng khung trong gió, còn mây cứ mặc mà khép kín trong mây. Chính việc nhìn có vẻ rất phi lý này đã góp phần thể hiện tâm trạng bi thương, đau buồn của tác giả. Liệu cảnh vật vốn dĩ mang màu buồn như thế, hay tâm hồn thi nhân âm u tới mức không thể nhìn ra cảnh sắc tươi vui? Liệu mây và gió tách biệt như thế, hay việc phải chia ly và sống trong cảnh đời đầy nghịch lý khiến tác giả không thể “tác thành” cho cả “gió” và “mây”?

Từ “lay” cũng như mang một nỗi buồn rất nhẹ. Đó phải chăng là sự xâm chiếm của nỗi buồn mây nước vào hồn hoa bắp bên sông. Cảnh sông Hương xứ Huế hiện lên sao trông thật buồn, phong vân đôi ngả, hoa bắp lay nhẹ, hoang vắng lại rợn ngợp như ngập tràn nỗi buồn thê lương. Từ đó, một nỗi buồn trĩu nặng như đè lấy cõi lòng thi nhân, nỗi buồn của sự đơn chiếc, nỗi buồn của sự tự ti và tiếc nuối, là nỗi buồn mang đậm chất ca dao thổi vào hồn muôn thuở của con người.

Trước nỗi buồn ngày một trĩu nặng ấy, tác giả sử dần trông thấy sự lo lắng, phấp phỏng đang dần chiếm lấy cõi lòng mình:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”

Trong tâm trạng bi thương ấy, thi nhân bỗng bật lên những nỗi niềm ước ao, hy vọng. Đó phải chăng là một sự níu giữ, bám víu cuối cùng của số phận bội bạc? Ước mơ của người thi sĩ nhường nhịn như đã gắn với trăng, với thuyền như một người bạn tri kỉ duy nhất đem lại nguồn sống cứu vớt chính mình. Thuyền trăng ấy mang một vẻ đẹp mà tác giả luôn mơ tưởng, dẫu cho nó thật hư ảo và khó phân định. Có thể hiểu “sông trăng” chính là hình ảnh dòng nước ngập tràn ánh trăng, thực thực ảo ảo, đẹp tới nao lòng, và “thuyền trăng” là một con thuyền vận chuyển ánh trăng về với tâm hồn thi nhân.

Trong thơ của Hàn Mặc Tử có cả một miền trăng là nơi chất chứa bao tâm sự, giải tỏa những nỗi đau mà tác giả muốn quên lãng. Từ “thuyền ai” sử dụng danh từ phiếm chỉ “ai” nhường nhịn như khiến ý thơ trở nên thật tranh chấp. Sự tranh chấp và phi lý trong ý thơ xét về mặt hiện thực lại giúp người ta lý giải được tâm trạng của chủ thể trữ tình.

Trăng lúc có lúc không, trăng mỏng mảnh, xa vời lại mờ ảo, cũng như người tri kỷ mờ ảo không thể nắm bắt khiến cho người ta thật sự lo lắng, phấp phỏng. Thi nhân chờ trăng hay chờ tri kỉ, chờ trăng hay chờ sự đồng điệu, chờ trăng hay chờ sự chia sẻ, chờ trăng hay chính là sự khát khao được giao cảm với đời? Tâm trạng lo lắng của tác giả sử được đẩy lên cao qua từ “kịp”.

Đó là sự lo lắng đan xen với đợi chờ cùng nỗi niềm thèm khát. Với một người thông thường, có nhẽ nếu như không chờ được đêm nay thì còn rất nhiều đêm khác, nhưng đối với Hàn Mặc Tử, rất có thể tối nay sẽ là tối cuối cùng thi sĩ còn thời cơ chờ đợi. Bởi vì quỹ thời gian của ông đang bị vơi dần đi, cuộc chia ly vĩnh viễn có thể tới bất kỳ lúc nào. nếu như như không về kịp tối nay, liệu có còn tối mai, liệu có được thời cơ gặp được tri kỉ để bầu bạn lần cuối?

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 12

Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Ông đã để lại cho kho tàng thơ ca Việt Nam nhiều tác phẩm hay được chú ý như Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín, Nắng vàng, Trên cầu Tràng tiền,…. Trong đó Đây thôn Vĩ Dạ được đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất của Hàn Mặc Tử thể hiện rõ nét tính cách thơ của ông.

Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ về tình yêu và khát khao cuộc sống. nếu như mở đầu bài thơ, người ta cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn người thi sĩ. Thì tới khổ thơ thứ hai, ta cảm nhận được sự hoài niệm, cùng tâm trạng lo lắng của người thi sĩ. Đây là một trong những khổ thơ thể hiện trung thực nhất tâm lý tình cảm của người thi sĩ.

Khổ thơ thứ hai Đây thôn Vĩ Dạ bao gồm 4 câu thơ thể hiện tâm tư, tình cảm của người thi sĩ – của người khách khi nhớ về quê hương. Ngay đầu khổ 2, một bức tranh sông nước đêm trăng được tác giả mở ra rõ nét:

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Ở đây ta thấy được sự tài tình của Hàn Mặc Tử. Chỉ bằng vài nét chấm phá thôi nhưng có thể gợi lên cả vong linh của xứ Huế mộng mơ giữa đêm trăng thơ mộng. Đó là một xứ Huế yên bình, huyền ảo với mây trời êm dịu. Dòng sông Hương trong lời thơ của Hàn Mặc Tử hiện lên thật nhẹ nhõm nhưng cũng rất mênh mông thể hiện được vong linh của xứ Huế mộng mơ. Đó là cảnh vật: gió khẽ lay, mây khẽ bay,… Ở đây, mọi cảnh vật đều đi lại nhẹ nhõm, yên ả – là một điều gì đó rất riêng của Huế. Giống như Hoàng Phủ Ngọc Tường từng nói “dòng nước sông Hương cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Sông Hương chảy chậm, thực chậm, đó là điệu slow tình cảm mà dòng sông Hương dành cho xứ Huế”.

Nhưng cảnh vật ấy trong mắt người thi sĩ cũng đượm buồn, chẳng có sự kết nối. Mây và gió vốn là những sự vật gắn liền với nhau, hòa quyện vào nhau. Vậy mà ở đây “Gió theo lối gió, mây đường mây”, như chẳng có chút vương vấn nào.. Cùng với dòng nước “buồn thiu” càng làm nổi trội lên nỗi buồn sâu lắng ấy. Và trong không gian ấy, hoa bắp chỉ khẽ “lay”. Động từ “lay” trong hoàn cảnh này nghe sao hiu hắt, nó giống như một sự níu giữ vu vơ. Hình ảnh “hoa bắp lay” như hiện thân cho thân phận cô độc, lạc loài, bị thế cục quên lãng của thi sĩ. nhường nhịn như nỗi buồn nhuốm cả vào không gian, cảnh vật, làm tâm trạng con người cũng không thể nào vui được. Câu thơ nghe sao cứ dài đằng đẵng, làm cho nỗi buồn không thể nguôi ngoai.

Đêm trăng đã biến dòng Hương giang trở nên huyền ảo hơn bao giờ hết. Cùng với bầu trời trong veo, ánh trăng sáng vằng vặc tạo thành những dải ánh vàng trên sống. Nó làm cho dòng sông bỗng hóa thành “dòng sông trăng”. Ở đây, tác giả đã sử dụng giải pháp nhân hóa đối với dòng sông. Dòng sông không còn đơn thuần là một cảnh vật tĩnh nữa, qua lời thơ của Hàn Mặc Tử nó đã trở thành sinh thể có tâm hồn mang nỗi niềm của con người. nhường nhịn như nó chính là đại diện cho người thi sĩ.

Cảnh vật càng nhuốm màu buồn hơn khi những sự vật nhường nhịn như chẳng có liên quan gì. “Mây” và “gió” đã trở thành xa lạ. nhường nhịn như quang cảnh lúc này gió và mây đã ở hai toàn cầu khác nhau, chẳng còn vướng bận với nhau nữa. Câu thơ mang tới hiện thực phũ phàng và cũng thể hiện tâm trạng ngổn ngang của người thi sĩ. Đó là thi sĩ đang sống trong cảnh chia ly với cảnh đời đầy nghịch lý nên gió và mây cứ như hai đường thẳng song song, chẳng hòa nhập gì. Chính lúc ấy, chỉ một từ “láy” nhẹ nhõm của gió thôi cũng thổi bùng lên nỗi buồn muôn thuở của con người.

Tiếp theo đó, tâm trạng lo lắng, thấp thỏm của người thi sĩ được thể hiện rõ nét. nhường nhịn như người thi sĩ đã hy vọng quá nhiều, để rồi giờ đây nỗi thất vọng được bộc lộ rõ ngay trên dòng Hương giang này. Đó không đơn thuần là nỗi thất vọng, đó còn là nỗi sợ, nỗi băn khoăn về sự chia ly cách biệt.

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

Một cảnh vật lung linh, huyền ảo với ánh trăng ngập lối được mở ra. Hình ảnh ấy mang tới ý nghĩa vừa thực vừa ảo như tâm trạng của người thi sĩ vậy. Ở đây, tác giả sử dụng “sông trăng” để mô tả dòng sông ngập tràn ánh trăng mang tới sự kỳ vĩ. Còn chiếc thuyền đậu trên dòng sông trăng ấy giống như chính người thi sĩ. Ánh trăng nhường nhịn như đã ngập tràn tất cả không gian và thời gian, gợi lên một cảm giác mơ hồ.

Ở đây tác giả sử dụng “thuyền ai” vừa như nghi vấn, vừa như câu cảm thán. “Thuyền ai” vô cùng mơ hồ nhưng ta biết đó là khát vọng của người thi sĩ, mong mỏi về người xưa, chốn cũ. Trong lúc đó “thuyền ai” lại gợi ra một hình ảnh đơn độc. Hình ảnh ấy chẳng rõ ràng mà mờ ảo, mỏng mảnh giống như ánh trăng lúc có lúc không. Đó cũng là điều thể hiện niềm lo lắng, phấp phỏng của người thi sĩ.

có nhẽ, Hàn Mặc Tử muốn sử dụng dòng sông trăng để mở ra một toàn cầu tri kỉ chất chứa tâm sự. Đó cũng là toàn cầu để tác giả giải tỏa những niềm đau, sự lo lắng. Trong giọng điệu của câu thơ ta thấy được nỗi niềm khát khao, khắc khoải tới cháy bỏng của Hàn Mặc Tử. Nó được thể hiện rõ nét qua từ “kịp” mà tác giả sử dụng trong câu. “Kịp” tức là chưa chắc chắn nên người thi sĩ mới lo lắng sống trong tâm trạng chờ đợi, khát khao. Cái sự “kịp tối nay” mà tác giả đưa ra cũng như một lời khẩn cầu tha thiết, bởi chỉ qua ngày mai thôi, mọi thứ sẽ chỉ còn là dấu chấm hết. từ đó ta cũng thấy được nhường nhịn như cuộc sống của người thi sĩ đang vơi cạn từng ngày. Sự chia ly có thể tới bất cứ lúc nào. Thế nên nếu như thuyền không chở được “trăng” về tối nay, người thi sĩ chẳng tìm được sự tri kỉ sẽ phải ra đi vĩnh viễn trong đau buồn, ăn năn.

Với văn pháp tả cảnh gợi tình đầy tinh tế, hình ảnh sàng lọc, Hàn Mặc Tử đã mang tới cho người đọc một Đây thôn Vĩ Dạ sắp gũi, thân thuộc. Đó là miền quê hương quốc gia, một nơi gắn bó với tuổi thơ. Bài thơ còn là tiếng lòng của một trái tim yêu người, yêu đời mãnh liệt. Nhưng niềm tin yêu ấy lại sớm chìm trong vô vọng. Và khổ 2 trong Đây thôn Vĩ Dạ chính là sự chứng minh cho sự vô vọng ấy. Khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ là sự hoài niệm của tác giả về nơi từng gắn bó với mình – dòng sông Hương và tâm trạng lo lắng, phấp phỏng khi đợi chờ tri kỉ, tri kỷ. Đây có nhẽ là khổ thơ hay thể hiện tâm trạng của tác giả trong chặng đường chờ đợi sự tri kỉ, sẻ chia.

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 13

Hàn Mặc Tử được biết tới là ngôi sao sa ngắn ngủi trong phong trào thơ mới. Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng nói của một hồn thơ yêu cảnh vật, yêu cuộc sống, yêu con người tha thiết, nồng nàn. Tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ phản ánh lại tình yêu, khát khao cuộc sống của tâm hồn đó. Khổ thơ thứ hai của bài thơ mang tới một hồi ức và tâm trạng âu lo của thi sĩ.

Khổ hai: bầu trời, sông nước Vĩ Dạ thôn trong tâm trạng buồn bã, chia rời, vô vọng và đau đáu một nỗi khát khao được trùng phùng của Hàn Mặc Tử.

Câu thơ đầu với cách ngắt nhịp 4/3 tạo nên 2 vế đối lập nhau.

Xuất hiện hai hình ảnh của thiên nhiên đó là gió và mây, theo một quy lực tự nhiên thì “Gió thổi mây bay” tức là gió và mây sẽ luôn luôn song hành, đồng hành với nhau. Thế nhưng trong câu thơ của Hàn Mạc Tử thì hình ảnh gió và mây nhường nhịn như đối lập nhau. Sự đối lập trái ngược với quy luật của tự nhiên, của vũ trụ như ngầm dự đoán về sự xa rời chia lìa sắp xảy ra. Thiên nhiên không hòa hợp vì chính con người cũng đang mang trong mình tâm trạng bất an, tự ti chia lìa cõi đời.

Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa gắn tâm trạng “buồn thiu” lên “dòng nước”. Dòng nước trở nên bất động, không muốn trôi chảy, mặc kệ sự đời như đang dần đánh rơi sự sống. Hàn Mạc Tử mang trong mình nỗi buồn trĩu nặng.

Hình ảnh hoa bắp phối hợp với động từ chỉ trạng thái “lay”, một sự đi lại rất nhẹ, gợi lên không gian vắng lặn với sự hiu hắt, thiếu vắng, u buồn, đơn chiếc.

Cảnh sắc được nội tâm hóa bộc lộ nỗi đau thân phận, sự chia lìa xa rời của nhân vật trữ tình.

Cảnh tuy đẹp nhưng lại đơn độc, rời rạc, hiu hắt mang trong mình tâm trạng đơn chiếc, u sầu của thi sĩ trước thế cục nghiệt ngã. Cảnh sắc sông Hương xứ Huế hiện lên thấm đẫm nỗi buồn, hoa bắp lay, phong vân đôi ngả hoang vắng rợn ngợp chứa đựng nỗi buồn của sự thê lương. Nỗi buồn thi sĩ hòa hợp với nhịp buồn xứ Huế cùng những khát khao khôn nguôi.

Trong tâm trạng thê lương buồn thảm ấy, chợt hiện lên những ước ao hy vọng là có một điều gì đó có thể trở về với mình để bám víu, để níu giữ. nhường nhịn như ước mơ của thi sĩ Hàn Mạc Tử thường gắn với ánh trăng, với chiếc thuyền thể hiện thèm khát tri kỉ, trùng phùng.

Ở hai câu thơ tiếp theo tác giả đã mô tả cảnh đêm trăng của thiên nhiên, cảnh sông Hương xứ Huế, một trong những địa danh tiêu biểu khi nhắc tới Huế.

Hình ảnh thuyền chở trăng một hình ảnh vô cùng lãng mạn và đầy thi vị.

Sông trăng: là dòng sông nhóng nhánh soi bóng ánh trăng vàng, chất chứa trong mình vong linh của cảnh sắc thiên nhiên.

Đại từ phiếm chỉ “ai” đặc tả cảm giác mơ hồ, xa lạ, đầy mơ ảo, không biết rằng đó là chiếc thuyền của ai của người dân xứ Huế hay của Hoàng Cúc. Hay chỉ đơn thuần là thi sĩ nói một cách bâng quơ như thế. Chính sự bâng quơ ấy lại gợi lên được tâm trạng của thi sĩ mơ hồ, khó tả.

Thông qua vẻ đẹp huyền ảo của sông trăng, ánh trăng tác giả đã gợi tả lên được vẻ đẹp đặc trưng của xứ Huế, êm đềm và thơ mộng.

nghi vấn tu từ “kịp tối nay?” thể hiện sự thảng thốt, băn khoăn mang trong mình cái vẻ khắc khoải, tha thiết.

Chữ “kịp” làm cho thời gian như bị rút ngắn lại, trở nên ngắn ngủi.

Xuất hiện hàng loạt nghi vấn ẩn chứa sự day dứt, đợi chờ và lo lắng trong tâm hồn của thi sĩ.

Hình ảnh “Thuyền chở trăng”, “bến sông trăng” là hình ảnh trôi giữa hư vô và thực tiễn, nỗi niềm mong ước được hội ngộ giao duyên.

Những ước muốn tưởng chừng đơn thuần ấy của Hàn Mặc Tử lại gắn liền với những đau thương và dự cảm tan vỡ. Cảnh vẫn đẹp nhưng lại thấm đượm vẻ hiu hắt, buồn bã, lạnh lẽo. Tác giả đã cảm nhận được nỗi buồn của một con người phải xa rời với thế cục ở tuổi 28 chỉ vì căn bệnh phong quái ác.

nếu như khổ thơ thứ nhất cảnh sắc mà tác giả đưa tới cho người đọc là thiên nhiên tươi sáng, tràn đầy sức sống thì sang tới khổ thơ thứ hai cảnh vật đột ngột nhuốm màu sắc u buồn, trầm mặt. Trong nỗi buồn tha diết ấy thì tác giả sử muốn nương tựa vào cái đẹp của tình người tình đời nhưng càng trông ngóng thì vẫn không tránh khỏi những vô vọng để rồi thi sĩ chìm sâu vào trong mộng cảnh. Khổ thơ thứ hai này góp phần tạo sự gắn kết và trị giá sâu sắc cho cả bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ một lần nữa giúp khẳng định tài năng cũng như thể hiện những xúc cảm chân thật nhất của Hàn Mặc Tử- thi sĩ “điên”.