Top 7+ bài Phân tích Thương vợ 6 câu đầu chọn lọc hay nhất

Phân tích Thương vợ 6 câu đầu – Ngữ văn 11 – Tuyển chọn những bài văn hay Phân tích sáu câu đầu bài Thương vợ. Với những bài văn mẫu hay nhất được tổng hợp dưới đây sẽ giúp các em học sinh có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé!

Dàn ý Phân tích Thương vợ 6 câu đầu

1. Mở bài

– Thương vợ được viết khoảng năm 1896 – 1897. Bà Tú tên Phạm Thị Mẫn, là người vợ hiền thục đảm đang, tảo tần lo cho chồng con, nên tác giá rất quý trọng và có viết một số bài thơ về bà. Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện ra phía trước, ỏng Tú khuất ở phía sau, nhìn kĩ mới trông thấy và hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ.

Đặc biệt, bài Thương vợ thể hiện lòng thương quý và hàm ơn người vợ đảm đang, giàu đức hi sinh cho chồng con.

2. Thân bài

a. Việc mưu sinh vất vả của bà Tú

– Việc mưu sinh vất vả của bà Tú được diễn ta trong bốn câu đầu.

– Thời gian (quanh năm), công việc (kinh doanh), không gian (ở mom sông): quanh năm bà Tú miệt mài kinh doanh vất vả ở mom sông, toan tính việc mưu sinh cho cả nhà và nuôi lũ con (năm con), lại nuôi luôn cá chồng (với một chồng). Lối nói úp mở vừa hóm hỉnh trong hai câu 1, 2 vừa nhấn mạnh lòng hàm ơn pha lẫn sự ăn năn và tỏ ý thương quý bà Tú.

Xem thêm: Top 20+ bài văn mẫu phân tích bài thơ thương vợ ngắn gọn hay nhất

– Câu 3 mượn hình ảnh con cò trong ca dao, có sử dụng giải pháp đảo ngữ (lặn lội thân cò để diễn tả việc kinh doanh vất vả của bà Tú, lặn lội cả những nơi vắng vẻ, nguy hiểm (nơi quãng vắng). Câu 4 tả cảnh bà Tú phải chen chúc trên mặt nước vào những buổi đò đông, kiêng kỵ mua bán thật tất bật, nhọc nhằn.

b. Những đức tính cao đẹp của bà Tú

– Bà Tú là ngươi đảm dang, tháo vát, chu đáo với chồng con:

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Trong hai câu 5 và 6, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự quên mình của vợ:

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Duyên một mà nợ hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sự vất vả vì chồng con.

Nắng mưa chỉ sự vất vả, năm, mười là số lượng phiếm chỉ để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo (“năm nắng mười mưa”), vừa nói lên sự vất vả gian truân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu thương chịu khó, nhiệt tình vì chồng vì con của bà Tú.

3. Kết bài

Xã hội xưa “trọng nam khinh nữ”, coi người phụ nữ là thân phận phụ thuộc. Một nhà nho như Tú Xương dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc thế, dám tự thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”, không những đã biết trông thấy thiếu sót, mà còn dám tự nhận khuyết thiếu. Một con người như thế là một tư cách đẹp

Phân tích 6 câu đầu bài thơ Thương vợ (mẫu 1)

Tế Xương là một thi sĩ lớn của dân tộc luôn tỏa sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Thơ ông luôn mang tính chất trào phúng sâu,đả kích hoặc là thuần trữ tình sâu sắc.

Thương vợ là một bài thơ mô tả về hình ảnh bà Tú vất vả lặng lẽ hi sinh vì chòng vì con ,từ đó cũng thể hiện được tình yêu thương của ông giành cho bà với một sự hàm ơn và quý trọng người vợ của mình

Chỉ với sáu câu thơ trước hết cũng đã phần nào nói lên được sự vất vả tảo tần chịu thương chịu thương chịu khó của bà Tú

Quanh năm kinh doanh ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Chỉ bằng vài lời thơ hồn hậu và bình dị thì Tú Xương đã tạo điều kiện cho người đọc hình dung ra được cảnh bà Tú một thân một mình gánh vác trên vai nuôi gia đình,lặn lội từ bờ sông này tới bờ sông khác siêng năng làm ăn kiếm tiền nuôi chồng con mà không hề than trách một lời nào.

Từ “mom” là một từ sử dụng để diễn tả mảnh đất trống nhô ra,là địa điểm để kinh doanh nhỏ của những người dân. Là nơi họ chèo thuyền để tới kinh doanh và bà Tú là tiêu biểu quanh năm kinh doanh ở đó để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống cả nhà có những đứa con thơ. Chỉ với một từ mom mà tác giả đã phần nào nói lên được sự khắc khổ và bươn chải của vợ mình ở ven sống đó. Không những thế ông còn ví vợ mình như thân cò lặn lội từ bờ này sang bờ khác chỉ để so bì bõm tìm kiếm thức ăn.

Từ quanh năm kinh doanh tức là không một ngày nào bà Tú nghĩ làm và xem ngày nào cũng giống như ngày nào theo thường lệ,hơn nữa từ mom càng tô đậm thêm cái cheo leo không vững vàng của việc làm ăn,tạm bợ. Từ mom càng lột tả hết được sự nhỏ bé và đơn chiếc của bà khi ngồi trên đó.

Ngày xưa phụ nữ phong kiến có phận sự trách nhiệm là phải thờ chồng nuôi con cho nên sự làm lũ vất vả của bà tương tự là một điều đương nhiên. Thờ chồng bao hàm cả việc là nuôi cả chồng của mình. Đó là sự bất công của xã hội nếu như xét theo phương diện thời bấy giờ nhưng nếu như mà nói về mặt đức độ thì sức tháo vát làm ăn của người vợ ấy thật đáng nể sợ và đáng trân trọng biết bao.

Cái từ năm con với một chồng cũng cho thấy số lượng đếm trên đầu ngón tay mà một mình bà tú gánh hết. Bà Tú nuôi cả chồng đâu có đơn thuần như nuôi mấy đứa con,có khi còn rượu chè rồi bầu bạn. ấy vậy mà bà vẫn nuôi được cả về số lượng lẫn chất lượng như ta đã thấy,tương tự bà Tú không chỉ là nuôi ông Tú mà còn cung phụng,thờ.

Với câu thơ thứ ba thì hình ảnh bà tú một mình thui thủi làm ăn càng hiện lên một cách đậm nét hơn

Lặn lội thân cò khi quảng vắng

kiêng kỵ mặt nước buổi đò đông

Tú xương đã sử dụng một hình tượng thân thuộc để nói lên sự siêng năng của người vợ đó là hình ảnh con cò,một hình ảnh thân thuộc thường hay sử dụng trong văn học. Đây là cách nói ví von ,ông không đem ra mà so sánh mà để nói lên sự siêng năng sáng ngày của người vợ ông rất đỗi yêu thương. Một tấm thân mảnh khảnh và yếu đuối mà phải chịu cảnh dãi nắng dầm sương không khi nào quản ngại khó khăn cả, đã thế còn phải lặn lội cả sớm trưa. Theo nghĩa đen thì cũng đã gợi lên sự khó khăn nhọc mệt của bà.

Từ quãng vắng làm nổi lên sự hiu quạnh,lẻ loi của bà không biết bấu víu nương tựa vào đâu. kiêng kỵ mặt nước buổi đó đông có thể hiểu theo hai cách khác nhau. Đò đông tức là đò đã chở đầy khác,hai là đò là nơi tập hợp rất đông người.

Câu thơ mô tả hết sức trữ tình và sâu lắng khiến cho người nghe cũng cảm thấy xót xa tội nghiệp. ông Tú tỏ ra thương cảm cho vợ mình nặng nhọc và thương vợ tới vậy là cùng.

Ông thấu hiểu công việc làm ăn khó khăn gian truân vất vả của bà là vậy. Khi quãng vắng buổi đò đông bà đều không quản khó khăn nhọc mệt một lòng vì chồng vì con,một lòng không kể khổ gian truân.

Không phải ông là một người dửng dung mà là một người rất biết thương vợ. Thương vợ cũng chính là lúc ông tự trách mình không lo nổi cho vợ cho con,còn phải để cho vợ con kiêm thêm mồm ăn trong nhà. Thấy mình có lỗi với vợ con.

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Ở hai câu năm và sáu đều sử dụng những thành ngữ dân gian như “một duyên hai nợ”; “năm nắng mười mưa” là những câu chữ nói nên sỗ phận cực khổ của một con người.

Thành ngữ ở câu năm phiếm chỉ duyên chỉ có một mà nợ tới những hai, gánh nặng thì nhiều mà hạnh phúc và sự may mắn thì lại ít ỏi. Câu sáu với cách phối hợp từ tăng tiến ẩn dụ cho nỗi vất vả nhọc nhằn cùng với nghệ thuật đối “năm nắng mười mưa” với “dám quản công” thể hiện sự hi sinh trầm lặng của bà Tú. Sử dụng thành ngữ nhấn mạnh người vợ không chỉ vất vả, đảm đang, nhẫn nại mà còn hi sinh lặng lẽ.

Từ những câu thơ trên đã khắc họa thành công chân dung bà Tú tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam, tảo tần, chịu thương, hi sinh, chịu đựng. Tấm lòng thương vợ tới đây không chỉ thương xót, mà còn thương cảm thấm thía.

Mặc dù yêu vợ nhưng lại không thể đỡ đần toan lo giùm vợ dù chỉ một phần nhỏ công việc chỉ vì cái phép tắc lễ giáo đối với những nhà nho thời phong kiến, buộc bà Tú phải chịu nhiều vất vả gian truân trong cuộc thế. Nhưng bà lại có niềm hạnh phúc là ngay lúc còn sống đã được đi vào thơ ông Tú với tất cả niềm yêu thương, trân trọng của chồng.

Qua sáu câu thơ này chúng ta đã cảm thấy tình yêu thương sâu sắc của ông Tú dành cho bà và dự chịu thương chịu thương chịu khó của một người vợ dành cho chồng con. Với ngòi bút tinh tế tài hoa ông đã lột tả được một cách trung thực sâu sắc.

Phân tích 6 câu đầu bài thơ Thương vợ (mẫu 2)

Dưới thời phong kiến, thân phận người phụ nữ có chồng rẻ rúng, bọt bèo. Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực, song văn học trung đại chưa bao giờ quan tâm tới người phụ nữ, riêng có Tú Xương. Ít nhà văn thi sĩ cùng thời nào dám viết về vợ của mình. Qua 6 đầu bài thơ “Thương vợ”, ta thấy một Tú Xương đầy nhân đạo, nhân văn:

“Quanh năm kinh doanh ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

kiêng kỵ mặt nước buổi đò đông”

Tú Xương (1870-1907) tên khai sinh là Trần Tế Xương, một nghệ sĩ, một trí thức phong kiến. Tú Xương vượt bậc trong hai mảng thơ trào phúng và trữ tình. Cả đời Tú Xương sắp như chỉ bận rộn tới việc học và thi. Mọi việc trong gia đình đều do một tay bà Tú gánh vác. Tú Xương trân trọng, hàm ơn và hổ thẹn với người vợ. Bài thơ “Thương vợ” gửi gắm tình cảm đó. Trong đó, 4 câu thơ đầu là hình ảnh trung thực về một bà Tú – người mẹ, người vợ khắc khổ nhưng đảm đang, tảo tần, giàu đức hi sinh.

Thể hiện điều đó, Tú Xương khởi đầu từ cách giới thiệu công việc của bà Tú:

“Quanh năm kinh doanh ở mom sông”

Công việc của bà Tú là kinh doanh, một công việc chẳng hợp với người xuất thân “con nhà dòng” như bà Tú. Bà Tú buộc phải tham gia vào chốn ồn ã, xô nhân tình, phức tạp. Vì miếng cơm manh áo mà phải làm thuê việc vất vả ấy. Suốt thời gian “quanh năm”, bà Tú làm không ngơi nghỉ. Trạng từ chỉ thời gian “quanh năm” được đặt lên đầu câu như nhấn mạnh hơn điều này. Về không gian làm việc, Tú Xương sử dụng từ “mom sông”. Mom sông là một đoạn đất bổi chồi ra, ba phía là nước vây bủa. Nó gợi sự chợp chờn, hiểm nghèo. Một câu thơ ngắn nhưng người đọc thấy được cả bức chân dung của người phụ nữ vất vả, nhọc nhằn.

Ấy vậy, bà Tú vẫn có thể nuôi sống gia đình:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Bà Tú “nuôi đủ”, chứ không thừa, không thiếu. Một mình bà Tú gánh trên vai 5 đứa con thơ dại kèm theo “một chồng”. Hơn nữa, từ “với” tạo thế thăng bằng giữa “năm con” và “một chồng”. Chính điều này đã ngầm so sánh gánh nặng nuôi chồng còn nặng ngang với cả 5 đứa con. nhường như Tú Xương đang tự mỉa mai bản thân. Ông hổ thẹn trước người vợ và châm biếm mình chỉ như một kẻ vô trò trống, chỉ là ông

Tới câu thơ tiếp, Tú Xương mô tả thực dung bà Tú thông qua hành động:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”

Không phải đột nhiên Tú Xương thay đổi nội dung thơ chuyển tới than thân cò, thân vạc. Tú Xương đang mượn thân cò để tiêu biểu cho hình ảnh bà Tú.

“Con cò lặn lội bờ ao

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc rủ rỉ”

Bà Tú cũng như trong câu ca dao xưa, gánh nặng nuôi chồng nuôi con quá lớn tới mức ngày không đủ bà Tú phải đi làm “thêm” ban đêm. Không còn là “mom sông” nữa, hình ảnh nhân vật chuyển tới không gian của những “quãng vắng”, nơi mà luôn có những “hố tử thần” sẵn sàng lấy đi tính mệnh bất cứ người nào không may sa chân.

Tú Xương đặt động từ “lặn lội” lên đầu câu nhằm nhấn mạnh vào bức chân dung nhân vật. Nó gợi những bước chân lõm bõm, long đong mò mẫm bùn lầy nhờ đó càng cho thấy nỗi vất vả cùng cực của bà Tú.

Từ ngày về đêm và cuối cùng trở lại ngày, một vòng tuần hoàn công việc không bao giờ dứt:

“kiêng kỵ mặt nước buổi đò đông”

Bà Tú hiện lên trong không gian buổi đò đông. Lại tiếp tục là chân dung người phụ nữ phải bon chen, tranh giành sự sống với đời. Thêm nữa, láy tượng thanh “kiêng kỵ” bổ nghĩa “mặt nước” khiến người đọc liên tưởng tới không gian mặt nước mênh mông, sóng xô cuộn bọt trắng, xoáy nước tun hút tựa thủy thần quái ác túc trực nuốt trộng kẻ sa chân. Ở đâu, nơi nào ta cũng thấy rõ 2 điều, công việc vất vả, nghiêm trọng và con người tảo tần, chuân chuyên.

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Mặc dù cực nhọc, vất vả quanh năm nhưng bà Tù không một lời than vãn. Bà chấp nhận tất cả lui về hậu phương để phục vụ chồng con. Ông Tú vì tấm lòng thương vợ nên đã sử dụng duyên nợ để thể hiện. cuộc thế bà hạnh phúc thì ít nhưng cực nhọc thì lại nhiều nhưng số phận là thế thì đành chấp nhận. có nhẽ, bà Tú cũng đã từng cảm thấy cuộc thế quá bất công với mình thế nhưng bà đã dặn lòng yên phận và cam chịu. Một duyên, hai nợ như chất chứa biết bao nỗi niềm u uất của bà. Ẩn chứa đằng sau đó là tình yêu thương, nỗi khổ tâm của người chồng khi để vợ xuôi ngược, vất vả như thế.

Tóm lại, 6 câu thơ đầu bài “Thương vợ” đã cho thấy nhiều đặc sắc nghệ thuật trong cách sử dụng từ, sáng tạo tiếng nói, diễn đạt… của Tú Xương. Qua đoạn thơ, Tú Xương không chỉ truyền tụng vẻ đẹp phẩm chất đảm đang, chịu thương chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh của bà Tú đồng thời còn thể hiện nỗi hổ thẹn của chính tác giả. Điều này khẳng định Tú Xương là người có tấm lòng nhân đạo, nhân văn sâu sắc.

Phân tích 6 câu đầu bài thơ Thương vợ (mẫu 3)

Cảm nhận của em về hình tượng bà Tú trong bài “Thương vợ” của tác giả Trần Tế Xương Trần Tế Xương còn được gọi là Tú Xương, quê ở Nam Định. Bản thân ông trên tuyến đường hoa cử lại không thành đạt mà chỉ đạt tới bậc Tú tài. Cá tính của ông thì đầy khía cạnh, không chịu gò mình.

Về sự nghiệp sáng tác, ông có trên 100 bài thơ, chủ yếu là thơ nôm gồm hai mảng trào phúng và trữ tình. Trong đó tác phẩm “Thương vợ” của ông thuộc đề tài nói về người vợ. Đây là một đề tài hiếm gặp trong thời kì văn học trung đại, và đó cũng có thể là điều minh chứng cho tình yêu thương vô hạn và sự hàm ơn của Tú Xương với vợ của mình.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, đảo, đối, được chia làm bốn phần: đề – thực – luận – kết. phần đầu là hình ảnh của bà Tú dưới cái nhìn của ông Tú.

“Quanh năm kinh doanh ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng”

Công việc của bà Tú là kinh doanh nhưng không phải ở trong chợ mà là ở mom sông, là một nơi nguy hiểm, không vững chãi. Thời gian mà bà Tú phải làm là quanh năm thời khắc này cho ta thấy công việc của bà phải làm là một công việc liên tục lặp lại khép kín không có thời gian để bà ngơi nghỉ.

Câu thứ hai khi đọc người đọc có thể cảm nhận phong cách viết thơ tự trào hóm hỉnh của Tú Xương. Ông không chỉ kể ra rằng bà Tú đã phải nuôi đủ con và chồng cả đủ ăn, đủ mặc, đủ tiêu xài cho những thói chơi tao nhã của nhà nho như Tế Xương. Ông còn kể rất tỉ mỉ “năm con”, “một chồng” và rồi còn tự tách hạ một mình mình đứng dưới cuối câu tưởng chừng đang tự cho mọi người biết ông như một kẻ ăn bám lấy vợ và cũng cần tới sự chăm lo của vợ giống những con mình.

Thật đáng cười cho một nhà nho bám vợ như ông:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

kiêng kỵ mặt nước buổi đò đông”

Ở đây ta có thể thấy rõ tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ sử dụng trong thân cò, một hình ảnh hay được đùng để ví von với người phụ nữ Việt có số phận cực khổ.

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

kiêng kỵ mặt nước buổi đò đông”

Trong câu thơ thứ ba tác giả đã đảo ngược từ lặn lội đứng trước danh từ chủ thể thân cò phối hợp với cụm từ quãng vắng, ngoài ra có thể để ý ta sẽ thấy một sự đối lập ở hai câu ba và bốn giữa “lặn lội” và “kiêng kỵ”; “khi quãng vắng” – “buổi đò đông” cho thấy nỗi vất vả một mình của bà Tú vừa phải gánh vác công việc để kiếm tiền đảm bảo một cuộc sống vừa đủ lại vừa phải toan lo việc gia đình. Bốn câu thơ đầu nói nên cuộc sống cập kênh của bà Tú nhưng dù vậy bà vẫn chăm lo chu đáo cho gia đình.

thi sĩ thể hiện sự thán phục hình ảnh người phụ nữ tảo tần, nhỏ bé, tiếp tục cực tả nỗi vất vả đơn chiếc nhưng đồng thời cũng kín đáo tự nhận mình là vô trò trống, làm khổ vợ con.

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Ở hai câu năm và sáu đều sử dụng những thành ngữ dân gian như “một duyên hai nợ” ; “năm nắng mười mưa” là những câu chữ nói nên sỗ phận cực khổ của một con người.

Thành ngữ ở câu năm phiếm chỉ duyên chỉ có một mà nợ tới những hai, gánh nặng thì nhiều mà hạnh phúc và sự may mắn thì lại ít ỏi. Câu sáu với cách phối hợp từ tăng tiến ẩn dụ cho nỗi vất vả nhọc nhằn cùng với nghệ thuật đối “năm náng mười mưa” với “dám quản công” thể hiện sự hi sinh trầm lặng của bà Tú. Sử dụng thành ngữ nhấn mạnh người vợ không chỉ vất vả đảm đang nhẫn nại mà còn hi sinh lặng lẽ.

Từ những câu thơ trên đã khắc họa thành công Chân dung bà Tú tiêu biểu cho người phụ nữ Viêt Nam, tảo tần, chịu thương, hi sinh, chịu đựng. Tấm lòng thương vợ tới đây không chỉ thương xót, mà còn thương cảm thấm thía.

Mặc dù yêu vợ nhưng lại không thể đỡ đần toan lo giùm vợ dù chỉ một phần nhỏ công việc chỉ vì cái phép tắc lễn giáo đối với những nhà nho thời phong kiến, buộc bà Tú phải chịu nhiều vất vả gian truân trong cuộc thế. Nhưng bà lại có niềm hạnh phúc là ngay lúc còn sống đã được đi vào thơ ông Tú với tất cả niểm yêu thương, trân trọng của chồng.

“Thương vợ” là một trong nhưng bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú, thể hiện được vẻ đẹp của bà Tú, một người phụ nữ đảm đang, vị tha và quan trọng hơn là sự thể hiện tấm lòng thương vợ, hàm ơn vợ cũng như lời tự trách mình của Tú Xương.

Phân tích 6 câu đầu bài thơ Thương vợ (mẫu 4)

Thương Vợ được Trần Tế Xương viết vào năm 1896 – 1897. Bà Tú có tên thật là Phạm Thị Mẫn, bà là một người vợ hiền thục, đảm đang và tảo tần lo cho chồng con. Cho nên, tác giả đã rất quý trọng, yêu thương vợ của mình và ông đã có một số bài thơ viết về bà. Trong bài thơ Thương vợ, chúng ta có thể bắt gặp được hình ảnh bà Tú hiện ra phía trước và ông Tú ẩn khuất ở phía sau. Đằng sau những câu từ có ý nghĩa mà đầy nghệ thuật đó chính là cảm một tấm lòng thương vợ của ông.

Qua 4 câu đầu chúng ta có thể được công việc mưu sinh của bà Tú vất vả và cực nhọc thế nào. những từ ngữ “quanh năm”, “kinh doanh”, “ở nom sông” đã gợi nên hình ảnh bà Tú quanh năm miệt mài với việc kinh doanh và vất vả ở nom sông. Bà phải toan tính cho cả nhà với “năm con” và “với một chồng”. Lối viết úp mở trong 2 câu đầu đã nhấn mạnh lòng hàm ơn pha trộn với sự ăn năn và thương quý vợ mình. tới câu 3, tác giả mượn hình ảnh con cò trong ca dao và sử dụng giải pháp đảo ngữ để diễn tả sự vất vả và lặn lội nơi vắng vẻ, nguy hiểm của bà Tú. Bà Tú phải chen chúc trên mặt nước vào những buổi đò đông để kinh doanh thật nhọc nhằn.

Hai câu tiếp theo chúng ta có thể thấy được hình ảnh bà Tú là một người phụ nữ đảm đang, tháo vát, chu đáo vơi chồng con. tới đây, Tú Xương một lần nữa cảm phục trước sự quên mình của vợ mình. Tuy cực khổ tương tự nhưng bà Tú vẫn không một lời phàn  nàn mà lặng thầm chấp nhận tất cả vì chồng con. “Năm nắng mười mưa” chính là sự vất vả và gian truân. Điều đó thể hiện đức tính chịu thương chịu thương chịu khó, thương chồng con nhiệt tình của bà Tú.

Với cách sử dụng những ngôn từ bình dị, hóm hỉnh mà tự nhiên cùng việc sáng tạo hình ảnh con cò trong ca dao. Đặc biệt là xúc cảm tình thật của chính tác giả. Chúng ta có thể thấy được hình ảnh của bà Tú khi được nhắc qua câu thơ có giọng điệu ngợi ca và đầy yêu thương của thi sĩ. Và ẩn sâu trong câu thơ, chúng ta có thể thấy được giọng điệu trào phúng và sự bất lực của Trần Tế Xương. Đặc biệt, thông qua bài thơ chúng ta có thể thấy những sự bất công về “trọng nam khinh nữ” ở thời xưa khốc liệt thế nào.

“Trong nam khinh nữ” là một trong những tư tưởng bất công và lạc hậu tồn tại trong xã hội xưa. Tuy nhiên, với Tế Xương, ông lại dám song phẳng với bản thân của mình rằng bản thân đang sống tựa vào vợ. Ông dám nhận những thiếu xót và thiếu sót của mình. Đặc biệt, ông cũng là một người chồng vô cùng yêu thương bà Tú.

Phân tích 6 câu đầu bài thơ Thương vợ (mẫu 5)

Trần Tế Xương còn được gọi là Tú Xương, quê ở Nam Định. Bản thân ông trên tuyến đường hoa cử lại không thành đạt mà chỉ đạt tới bậc Tú tài. Cá tính của ông thì đầy khía cạnh, không chịu gò mình.

Về sự nghiệp sáng tác, ông có trên 100 bài thơ, chủ yếu là thơ nôm gồm hai mảng trào phúng và trữ tình. Trong đó tác phẩm “Thương vợ” của ông thuộc đề tài nói về người vợ. Đây là một đề tài hiếm gặp trong thời kì văn học trung đại, và đó cũng có thể là điều minh chứng cho tình yêu thương vô hạn và sự hàm ơn của Tú Xương với vợ của mình.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, đảo, đối, được chia làm bốn phần: đề – thực – luận – kết. phần đầu là hình ảnh của bà Tú dưới cái nhìn của ông Tú.

“Quanh năm kinh doanh ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Công việc của bà Tú là kinh doanh nhưng không phải ở trong chợ mà là ở mom sông, là một nơi nguy hiểm, không vững chãi. Thời gian mà bà Tú phải làm là quanh năm thời khắc này cho ta thấy công việc của bà phải làm là một công việc liên tục lặp lại khép kín không có thời gian để bà ngơi nghỉ.

Câu thứ hai khi đọc người đọc có thể cảm nhận phong cách viết thơ tự trào hóm hỉnh của Tú Xương. Ông không chỉ kể ra rằng bà Tú đã phải nuôi đủ con và chồng cả đủ ăn, đủ mặc, đủ tiêu xài cho những thói chơi tao nhã của nhà nho như Tế Xương. Ông còn kể rất tỉ mỉ “năm con”, “một chồng” và rồi còn tự tách hạ một mình mình đứng dưới cuối câu tưởng chừng đang tự cho mọi người biết ông như một kẻ ăn bám lấy vợ và cũng cần tới sự chăm lo của vợ giống những con mình.

Thật đáng cười cho một nhà nho bám vợ như ông:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

kiêng kỵ mặt nước buổi đò đông”

Ở đây ta có thể thấy rõ tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ sử dụng trong thân cò, một hình ảnh hay được đùng để ví von với người phụ nữ Việt có số phận cực khổ.

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

kiêng kỵ mặt nước buổi đò đông”

Trong câu thơ thứ ba tác giả đã đảo ngược từ lặn lội đứng trước danh từ chủ thể thân cò phối hợp với cụm từ quãng vắng, ngoài ra có thể để ý ta sẽ thấy một sự đối lập ở hai câu ba và bốn giữa “lặn lội” và “kiêng kỵ”; “khi quãng vắng” – “buổi đò đông” cho thấy nỗi vất vả một mình của bà Tú vừa phải gánh vác công việc để kiếm tiền đảm bảo một cuộc sống vừa đủ lại vừa phải toan lo việc gia đình. Bốn câu thơ đầu nói nên cuộc sống cập kênh của bà Tú nhưng dù vậy bà vẫn chăm lo chu đáo cho gia đình.

thi sĩ thể hiện sự thán phục hình ảnh người phụ nữ tảo tần, nhỏ bé, tiếp tục cực tả nỗi vất vả đơn chiếc nhưng đồng thời cũng kín đáo tự nhận mình là vô trò trống, làm khổ vợ con.

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”

Ở hai câu năm và sáu đều sử dụng những thành ngữ dân gian như “một duyên hai nợ”; “năm nắng mười mưa” là những câu chữ nói nên sỗ phận cực khổ của một con người.

Thành ngữ ở câu năm phiếm chỉ duyên chỉ có một mà nợ tới những hai, gánh nặng thì nhiều mà hạnh phúc và sự may mắn thì lại ít ỏi. Câu sáu với cách phối hợp từ tăng tiến ẩn dụ cho nỗi vất vả nhọc nhằn cùng với nghệ thuật đối “năm nắng mười mưa” với “dám quản công” thể hiện sự hi sinh trầm lặng của bà Tú. Sử dụng thành ngữ nhấn mạnh người vợ không chỉ vất vả, đảm đang, nhẫn nại mà còn hi sinh lặng lẽ.

Từ những câu thơ trên đã khắc họa thành công chân dung bà Tú tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam, tảo tần, chịu thương, hi sinh, chịu đựng. Tấm lòng thương vợ tới đây không chỉ thương xót, mà còn thương cảm thấm thía.

Mặc dù yêu vợ nhưng lại không thể đỡ đần toan lo giùm vợ dù chỉ một phần nhỏ công việc chỉ vì cái phép tắc lễ giáo đối với những nhà nho thời phong kiến, buộc bà Tú phải chịu nhiều vất vả gian truân trong cuộc thế. Nhưng bà lại có niềm hạnh phúc là ngay lúc còn sống đã được đi vào thơ ông Tú với tất cả niềm yêu thương, trân trọng của chồng.

“Thương vợ” là một trong nhưng bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú, thể hiện được vẻ đẹp của bà Tú, một người phụ nữ đảm đang, vị tha và quan trọng hơn là sự thể hiện tấm lòng thương vợ, hàm ơn vợ cũng như lời tự trách mình của Tú Xương.

Lời kết 

Trên đây là Tuyển tập những bài văn mẫu Phân tích 6 câu đầu bài Thương vợ do GrabHanoi sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em học sinh sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!